Nhấn vào mũi tên để hiển thị chuyên mục con hoặc nhấn vào tiêu đề để lọc theo chuyên mục cha
Nhạc sĩ nào sáng tác bài hát Tiếng chày trên sóc Bom Bo?
Ai sáng tác bài hát Tiếng chày trên sóc Bom Bo? Nhạc sĩ có quyền gì đối với tác phẩm âm nhạc của mình?
Nhạc sĩ nào sáng tác bài hát Tiếng chày trên sóc Bom Bo?
Bài hát Tiếng chày trên sóc Bom Bo là một sáng tác nổi bật của nhạc sĩ Xuân Hồng, một trong những nhạc sĩ tiêu biểu của nền âm nhạc cách mạng Việt Nam. Ông sinh năm 1922 tại Hải Dương và được biết đến với nhiều tác phẩm mang đậm tinh thần yêu nước, gắn liền với cuộc kháng chiến chống thực dân và đế quốc. Ca khúc Tiếng chày trên sóc Bom Bo được Xuân Hồng sáng tác vào năm 1966, trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống Mỹ đang diễn ra ác liệt. Tác phẩm này lấy cảm hứng từ hình ảnh lao động đầy kiên cường của đồng bào dân tộc S’tiêng tại sóc Bom Bo, thuộc tỉnh Bình Phước ngày nay (trước đây thuộc tỉnh Sông Bé). Những tiếng chày giã gạo vang vọng ngày đêm không chỉ thể hiện sức sống bền bỉ của người dân Tây Nguyên mà còn là biểu tượng của hậu phương vững chắc, góp phần nuôi dưỡng bộ đội, phục vụ cho cuộc chiến đấu giành độc lập dân tộc.
Nhạc sĩ Xuân Hồng đã khéo léo kết hợp giai điệu mang âm hưởng dân ca Tây Nguyên với lời ca giản dị, gần gũi nhưng tràn đầy khí thế cách mạng, tạo nên một bài hát vừa trữ tình vừa hùng tráng Tiếng chày trên sóc Bom Bo không chỉ là lời ca ngợi tinh thần lao động và hy sinh thầm lặng của đồng bào dân tộc thiểu số, mà còn là một khúc ca bất hủ, ghi dấu ấn sâu đậm trong lịch sử âm nhạc Việt Nam thời chiến. Tác phẩm này đã được nhiều thế hệ nghệ sĩ biểu diễn và trở thành một phần ký ức âm nhạc của dân tộc, gắn liền với những năm tháng hào hùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Nhạc sĩ Xuân Hồng qua đời năm 1996, nhưng di sản âm nhạc của ông, đặc biệt là ca khúc này, vẫn sống mãi trong lòng người yêu nhạc Việt Nam.
Lưu ý: thông tin trên chỉ mang tính chất tham khảo.
Nhạc sĩ nào sáng tác bài hát Tiếng chày trên sóc Bom Bo? (Hình ảnh Internet)
Nhạc sĩ có quyền gì đối với tác phẩm âm nhạc của mình?
Căn cứ Điều 18 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, quy định như sau:
Quyền tác giả
Quyền tác giả đối với tác phẩm quy định tại Luật này bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản.
Như vậy, quyền tác giả là quyền của tác giả đối với tác phẩm âm nhạc của mình bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản.
Trường hợp nhạc sĩ là chủ sở hữu duy nhất đối với tác phẩm âm nhạc của mình
Căn cứ Điều 37 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, quy định như sau:
Chủ sở hữu quyền tác giả là tác giả
Tác giả sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất - kỹ thuật của mình để sáng tạo ra tác phẩm có các quyền nhân thân quy định tại Điều 19 và các quyền tài sản quy định tại Điều 20 của Luật này.
Như vậy, tác giả là chủ sở hữu duy nhất đối với tác phẩm âm nhạc của mình khi tác giả sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất - kỹ thuật của mình để sáng tạo ra tác phẩm.
Đồng thời tại Điều 14 Nghị định 17/2023/NĐ-CP và Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (được sửa đổi bởi khoản 5 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022) quy định nhạc sĩ có các quyền nhân thân như sau:
- Thứ nhất, tác giả có quyền đặt tên cho tác phẩm. Đây là quyền cho phép tác giả tự quyết định tên gọi của tác phẩm mình sáng tạo ra, đồng thời có thể chuyển giao quyền sử dụng quyền đặt tên này cho tổ chức, cá nhân nhận chuyển giao quyền tài sản theo khoản 1 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (được sửa đổi bởi khoản 5 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022). Tuy nhiên, quyền này không áp dụng đối với các tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, và việc đặt tên phải tuân thủ quy định tại khoản 2 Điều 7 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (được sửa đổi bởi khoản 2 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022) cũng như các quy định pháp luật liên quan, nhằm tránh vi phạm đạo đức hoặc pháp lý.
Thứ hai, tác giả có quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm, đồng thời được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố hoặc sử dụng. Quyền này được bảo vệ ngay cả khi tác phẩm được sử dụng để làm tác phẩm phái sinh. Cụ thể, khi công bố hoặc sử dụng tác phẩm phái sinh, tên thật hoặc bút danh của tác giả gốc phải được ghi nhận đầy đủ, thể hiện sự tôn trọng nguồn gốc sáng tạo và đảm bảo danh dự của tác giả.
Thứ ba, tác giả có quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm. Quyền này được hiểu là việc phát hành bản sao tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào, với số lượng hợp lý để công chúng có thể tiếp cận, tùy thuộc vào bản chất của tác phẩm. Việc công bố có thể do chính tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện, hoặc do cá nhân, tổ chức khác tiến hành với sự đồng ý của tác giả hay chủ sở hữu quyền tác giả. Quyền này nhấn mạnh vai trò chủ động của tác giả trong việc đưa tác phẩm đến với công chúng.
Thứ tư, tác giả có quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho phép người khác xuyên tạc, sửa đổi, hoặc cắt xén tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào nếu những thay đổi đó gây phương hại đến danh dự và uy tín của mình.
Ngoài ra, căn cứ Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (được sửa đổi bởi khoản 5 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022) và khoản 3 Điều 10 Nghị định 17/2023/NĐ-CP quy định nhạc sĩ có các quyền tài sản như sau:
- Làm tác phẩm phái sinh
- Biểu diễn tác phẩm trước công chúng trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các bản ghi âm, ghi hình hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào tại địa điểm mà công chúng có thể tiếp cận được nhưng công chúng không thể tự do lựa chọn thời gian và từng phần tác phẩm
- Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp toàn bộ hoặc một phần tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 3 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (được sửa đổi bởi khoản 5 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022)
- Phân phối, nhập khẩu để phân phối đến công chúng thông qua bán hoặc hình thức chuyển giao quyền sở hữu khác đối với bản gốc, bản sao tác phẩm dưới dạng hữu hình, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (được sửa đổi bởi khoản 5 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022)
- Phát sóng, truyền đạt đến công chúng tác phẩm bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác, bao gồm cả việc cung cấp tác phẩm đến công chúng theo cách mà công chúng có thể tiếp cận được tại địa điểm và thời gian do họ lựa chọn
- Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính, trừ trường hợp chương trình máy tính đó không phải là đối tượng chính của việc cho thuê.
- Quyền cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh quy định tại điểm e khoản 1 Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (được sửa đổi bởi khoản 5 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022) là quyền của chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc cho thuê để khai thác, sử dụng có thời hạn.
Trường hợp nhạc sĩ được giao nhiệm vụ viết nhạc hoặc có thỏa thuận trong hợp đồng hợp tác viết nhạc cho một tổ chức, cá nhân khác (tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm)
Căn cứ Điều 39 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, quy định chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc giao kết hợp đồng với tác giả.
-Tổ chức giao nhiệm vụ sáng tạo tác phẩm cho tác giả là người thuộc tổ chức mình là chủ sở hữu các quyền quy định tại Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (được sửa đổi bởi khoản 5 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022) và khoản 3 Điều 19 của Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (được sửa đổi bởi khoản 5 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022), trừ trường hợp có thoả thuận khác.
- Tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng với tác giả sáng tạo ra tác phẩm là chủ sở hữu các quyền quy định tại Điều 20 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (được sửa đổi bởi khoản 5 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022) và khoản 3 Điều 19 của Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (được sửa đổi bởi khoản 5 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022), trừ trường hợp có thoả thuận khác.
Như vậy theo quy định tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm âm nhạc của mình nếu được tổ chức giao nhiệm vụ sáng tạo tác phẩm hoặc tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng với tác giả sáng tạo ra tác phẩm. Tuy nhiên, tác giả vẫn có quyền nhân thân, trừ quyền công bố sản phẩm theo khoản 3 Điều 19 Luật sở hữu trí tuệ 2005 (được sửa đổi bởi khoản 5 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022) đối với tác phẩm âm nhạc của mình.
- Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của NhanSu.vn, chỉ mang tính chất tham khảo;
- Điều khoản được áp dụng (nếu có) có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc. Quý khách vui lòng kiểm tra lại thông tin trước khi áp dụng;
- Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền, nội dung của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ email [email protected];