Quyết định 3190/QĐ-UBND năm 2025 phê duyệt Đề án Phát triển Mạng lưới Trung tâm Đổi mới sáng tạo tầm cỡ quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh
| Số hiệu | 3190/QĐ-UBND |
| Ngày ban hành | 15/12/2025 |
| Ngày có hiệu lực | 15/12/2025 |
| Loại văn bản | Quyết định |
| Cơ quan ban hành | Thành phố Hồ Chí Minh |
| Người ký | Nguyễn Mạnh Cường |
| Lĩnh vực | Công nghệ thông tin |
|
ỦY BAN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 3190/QĐ-UBND |
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 12 năm 2025 |
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 16 tháng 6 năm 2025;
Căn cứ Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày 27 tháng 6 năm 2025;
Căn cứ Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia;
Căn cứ Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04 tháng 5 năm 2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân;
Căn cứ Nghị quyết số 98/2023/QH15 ngày 24 tháng 6 năm 2023 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh;
Căn cứ Nghị định số 268/2025/NĐ-CP ngày 14 tháng 10 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo về đổi mới sáng tạo; khuyến khích hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp; công nhận trung tâm đổi mới sáng tạo, hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo; công nhận cá nhân, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; hạ tầng, mạng lưới và hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, trong đó có nội dung quy định chi tiết và hướng dẫn về trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo;
Căn cứ Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 ngày 15 tháng 10 năm 2025;
Căn cứ Kế hoạch số 459-KH/TU ngày 21 tháng 5 năm 2025 của Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia;
Căn cứ Kế hoạch số 4354/KH-UBND ngày 14 tháng 6 năm 2025 của Ủy ban nhân dân Thành phố triển khai Kế hoạch hành động số 459-KH/TU ngày 21 tháng 5 năm 2025 của Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh về thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh;
Căn cứ Kế hoạch số 177/KH-UBND ngày 25 tháng 11 năm 2025 của Ủy ban nhân dân Thành phố về phát triển Hệ thống đổi mới sáng tạo, Hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo hướng tới mục tiêu đưa Thành phố Hồ Chí Minh trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo khu vực ASEAN và tiến vào Top 100 thành phố có hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo năng động toàn cầu giai đoạn 2026-2030;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tại Tờ trình số 5251/TTr-SKHCN ngày 03 tháng 12 năm 2025.
QUYẾT ĐỊNH:
Phê duyệt kèm theo Quyết định này là Đề án Phát triển Mạng lưới Trung tâm Đổi mới sáng tạo tầm cỡ quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.
Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân Thành phố, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ, Thủ trưởng các sở, ngành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã và các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân khác có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
|
TM. ỦY BAN NHÂN
DÂN |
|
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHÁT TRIỂN MẠNG
LƯỚI (Ban hành kèm theo Quyết định số: 3190/QĐ-UBND ngày 15 tháng 12 năm 2025 của Ủy ban nhân dân Thành phố)
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2025 |
MỤC LỤC
|
ỦY BAN NHÂN DÂN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 3190/QĐ-UBND |
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 12 năm 2025 |
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 16 tháng 6 năm 2025;
Căn cứ Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày 27 tháng 6 năm 2025;
Căn cứ Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia;
Căn cứ Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04 tháng 5 năm 2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân;
Căn cứ Nghị quyết số 98/2023/QH15 ngày 24 tháng 6 năm 2023 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh;
Căn cứ Nghị định số 268/2025/NĐ-CP ngày 14 tháng 10 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo về đổi mới sáng tạo; khuyến khích hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp; công nhận trung tâm đổi mới sáng tạo, hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo; công nhận cá nhân, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; hạ tầng, mạng lưới và hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, trong đó có nội dung quy định chi tiết và hướng dẫn về trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo;
Căn cứ Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 ngày 15 tháng 10 năm 2025;
Căn cứ Kế hoạch số 459-KH/TU ngày 21 tháng 5 năm 2025 của Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia;
Căn cứ Kế hoạch số 4354/KH-UBND ngày 14 tháng 6 năm 2025 của Ủy ban nhân dân Thành phố triển khai Kế hoạch hành động số 459-KH/TU ngày 21 tháng 5 năm 2025 của Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh về thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh;
Căn cứ Kế hoạch số 177/KH-UBND ngày 25 tháng 11 năm 2025 của Ủy ban nhân dân Thành phố về phát triển Hệ thống đổi mới sáng tạo, Hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo hướng tới mục tiêu đưa Thành phố Hồ Chí Minh trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo khu vực ASEAN và tiến vào Top 100 thành phố có hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo năng động toàn cầu giai đoạn 2026-2030;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tại Tờ trình số 5251/TTr-SKHCN ngày 03 tháng 12 năm 2025.
QUYẾT ĐỊNH:
Phê duyệt kèm theo Quyết định này là Đề án Phát triển Mạng lưới Trung tâm Đổi mới sáng tạo tầm cỡ quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.
Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân Thành phố, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ, Thủ trưởng các sở, ngành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã và các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân khác có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
|
TM. ỦY BAN NHÂN
DÂN |
|
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHÁT TRIỂN MẠNG
LƯỚI (Ban hành kèm theo Quyết định số: 3190/QĐ-UBND ngày 15 tháng 12 năm 2025 của Ủy ban nhân dân Thành phố)
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2025 |
MỤC LỤC
I. SỰ CẦN THIẾT HÌNH THÀNH MẠNG LƯỚI TRUNG TÂM ĐỔI MỚI SÁNG TẠO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
1.1. Cơ sở chính trị và pháp lý
1.2. Căn cứ thực tiễn
II. KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ TRUNG TÂM ĐỔI MỚI SÁNG TẠO
2.1. Nhận xét chung
2.2. Trung tâm Đổi mới sáng tạo định hướng công nghệ mới
2.3. Trung tâm Đổi mới sáng tạo định hướng khuyến công nghệ
2.4. Trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo
2.5. Trung tâm Đổi mới sáng tạo của các tập đoàn
2.6. Bài học từ kinh nghiệm quốc tế
III. MỤC TIÊU
3.1 Mục tiêu tổng quát
3.2 Mục tiêu cụ thể
IV. KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN CÁC MÔ HÌNH TRUNG TÂM ĐỔI MỚI SÁNG TẠO TẦM CỠ QUỐC TẾ TẠI TP. HỒ CHÍ MINH
4.1. Xây dựng các tiêu chí lựa chọn thực thể tham gia mạng lưới
4.2. Xây dựng Mô hình Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc tế Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh - Tổ hợp Công nghệ Sâu (Deep-Tech Complex)
4.3. Xây dựng Mô hình Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc tế Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh
4.4. Xây dựng Mô hình Trung tâm Khởi nghiệp Sáng tạo Thành phố Hồ Chí Minh (SIHUB)
4.5. Xây dựng Mô hình Doanh Nghiệp Đầu Tư (Doanh Nghiệp / PPP)
4.6. Liên kết mạng lưới
V. GIẢI PHÁP
5.1. Giải pháp thể chế, chính sách:
5.2. Giải pháp đầu tư cơ sở hạ tầng:
5.3. Giải pháp về tài chính:
5.4. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực:
5.5. Giải pháp về cơ chế hoạt động:
5.7. Giải pháp hợp tác quốc tế:
5.8. Quản trị và triển khai:
VI. TỔ CHỨC THỰC HIỆN VÀ ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ
6.1. Kinh phí thực hiện
6.2. Tổ chức thực hiện
6.3. Kiến nghị, đề xuất:
Phụ lục I KINH NGHIỆM MỘT SỐ CHƯƠNG TRÌNH KHUYẾN CÔNG NGHỆ CỦA NƯỚC NGOÀI
I. Chương trình khuyến sản xuất MEP của Hoa kỳ
1.1. Sự ra đời và những thay đổi trong định hướng chiến lược
1.2. Cơ cấu tổ chức của MEP
1.3. Khách hàng của MEP
1.4. Tài chính của MEP
II. Chương trình trợ giúp nghiên cứu của doanh nghiệp Canada
2.1. Sứ mệnh của chương trình
2.2. Tổ chức và quản trị của IRAP
2.3. Nguồn lực
2.4. Dịch vụ và cơ chế cung cấp dịch vụ
2.5. Khách hàng của IRAP
III. Mạng lưới Kosetsushi tại Nhật Bản
3.1 Lịch sử hình thành và phát triển
3.2. Cơ cấu tổ chức các trung tâm Kosetsushi
3.3. Dịch vụ và cơ chế hoạt động
3.4. Nguồn lực, khách hàng và kết quả hoạt động
3.5. Sức ép thay đổi và những điều chỉnh chiến lược
IV. Chương trình hỗ trợ công nghệ công nghiệp của Thái lan
4.1. Hình thành và phát triển
4.2. Tổ chức, dịch vụ và hoạt động của ITAP
4.3. Một số kết quả của ITAP trong giai đoạn 2006-2010
Phụ lục II KINH NGHIỆM TRUNG TÂM ĐỔI MỚI SÁNG TẠO ĐỊNH HƯỚNG CÔNG NGHỆ MỚI
I. Mạng lưới các viện Fraunhofer của Đức
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
1.2. Cơ cấu tổ chức
1.3. Khách hàng của Fraunhofer
1.4. Tài chính (Mô hình "Tam giác" Fraunhofer)
1.5. Các dịch vụ và cơ chế hoạt động
II. Mạng lưới trung tâm công nghệ và đổi mới sáng tạo Catapults của Vương quốc Anh
2.1. Lịch sử hình thành và phát triển
2.2. Cơ cấu tổ chức
2.3. Khách hàng của Catapult
2.4. Tài chính (Mô hình "Ba phần")
2.5. Các dịch vụ và cơ chế hoạt động
III. Viện nghiên cứu công nghệ công nghiệp Đài Loan
3.1. Lịch sử hình thành và phát triển
3.2. Cơ cấu tổ chức
3.3. Khách hàng của ITRI
3.4. Tài chính (Mô hình 50/50)
3.5. Các dịch vụ và cơ chế hoạt động
Phụ lục III MỘT SỐ MÔ HÌNH TRUNG TÂM HỖ TRỢ KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO KHÁC
I. Vườn ươm Doanh nghiệp (Business Incubator)
II. Tổ chức Tăng tốc Khởi nghiệp (Accelerator)
III. Tổ chức Kiến tạo Khởi nghiệp (Venture Builder / Startup Studio)
IV. Trung tâm Đổi mới sáng tạo (Innovation Hub)
V. Phòng Thí nghiệm Đổi mới sáng tạo của Tập đoàn (Corporate Innovation Lab)
Phụ lục IV THUẬT NGỮ VÀ TIÊU CHÍ CỦA TRUNG TÂM ĐỔI MỚI SÁNG TẠO, TRUNG TÂM ĐỔI MỚI SÁNG TẠO CẤP QUỐC GIA
I. MỘT SỐ THUẬT NGỮ
II. TIÊU CHÍ XÁC ĐỊNH TRUNG TÂM ĐỔI MỚI SÁNG TẠO, TRUNG TÂM ĐỔI MỚI SÁNG TẠO CẤP QUỐC GIA
2.1. Tiêu chí xác định Trung tâm Đổi mới sáng tạo
2.2. Tiêu chí xác định Trung tâm Đổi mới sáng tạo cấp quốc gia
Phụ lục V DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. SỰ CẦN THIẾT HÌNH THÀNH MẠNG LƯỚI TRUNG TÂM ĐỔI MỚI SÁNG TẠO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
1.1. Cơ sở chính trị và pháp lý
Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: “Tiếp tục đẩy mạnh đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế, chuyển mạnh nền kinh tế sang mô hình tăng trưởng dựa trên tăng năng suất, tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhân lực chất lượng cao, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực để nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo, phát triển các ngành, lĩnh vực, các doanh nghiệp trên nền tảng ứng dụng mạnh mẽ các thành tựu của khoa học và công nghệ, nhất là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; phát triển các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, sản phẩm công nghệ cao, có giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường, tham gia có hiệu quả vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu”.
Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư xác định giải pháp: “Áp dụng các cơ chế, chính sách đặc biệt, có tính đột phá đối với các trung tâm đổi mới sáng tạo. Phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia theo hướng lấy doanh nghiệp làm trung tâm, trường đại học và viện nghiên cứu là chủ thể nghiên cứu mạnh. Khuyến khích các trường đại học, doanh nghiệp, tổ chức trong nước và nước ngoài thành lập các trung tâm đổi mới sáng tạo tại Việt Nam”
Quyết định số 569/QĐ-TTg ngày 11/5/2022 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030, theo đó xác định giải pháp: “Phát triển hệ thống các trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia, các trung tâm đổi mới sáng tạo ngành, vùng, các trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo nhằm phát triển, tích hợp hình thành các cụm liên kết đổi mới sáng tạo với các khu công nghệ cao, khu dân cư, trung tâm tài chính, quỹ đầu tư mạo hiểm, trường đại học, viện nghiên cứu”; “Tăng cường liên kết các mạng lưới đổi mới sáng tạo, mạng lưới khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, các trung tâm đổi mới sáng tạo, các trung tâm nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong và ngoài nước”.
Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày 09/01/2023 của Quốc hội về quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 xác định: “Xây dựng và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; tăng cường tiềm lực của hệ thống trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm khởi nghiệp sáng tạo quốc gia, vùng, địa phương để hỗ trợ, thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo”.
Kết luận số 69-KL/TW ngày 11/01/2024 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 01/11/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã đề ra nhiệm vụ: “Phát triển các trung tâm và mạng lưới đổi mới sáng tạo, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo”;
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số quốc gia xác định quan điểm chỉ đạo: “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”, đồng thời đưa ra giải pháp "Khẩn trương sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện đồng bộ các quy định về khoa học, công nghệ, đầu tư công, mua sắm công,... để tháo gỡ các điểm nghẽn, rào cản, giải phóng các nguồn lực, khuyến khích, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia, phát triển nguồn nhân lực".
Ngày 15/10/2025, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần I, nhiệm kỳ 2025-2030, được đại hội nhất trí thông qua, theo đó, một trong 10 nhóm nhiệm vụ chủ yếu để phát triển Thành phố là “Phát triển kinh tế nhanh, bền vững trên nền tảng đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại kinh tế theo hướng lấy khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực chủ yếu; đẩy mạnh quá trình chuyển đổi số, chuyển đổi xanh toàn diện; phát triển kinh tế tri thức, sáng tạo, có khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu”.
Nghị quyết số 98/2023/QH15 ngày 24/6/2023 của Quốc Hội về thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TPHCM đã quy định nhiều cơ chế, chính sách đột phá để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo, như: Xác định trung tâm đổi mới sáng tạo là đối tượng ưu tiên thu hút đầu tư chiến lược; miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho trung tâm đổi mới sáng tạo và các tổ chức trung gian hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; cho phép thử nghiệm có kiểm soát các giải pháp công nghệ mới trong phạm vi khu công nghệ cao, khu công nghệ thông tin tập trung, trung tâm đổi mới sáng tạo;…
Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân xác định quan điểm chỉ đạo: “Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, là lực lượng tiên phong thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, công nghiệp hóa, hiện đại hoá, tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng xanh, tuần hoàn, bền vững”, đồng thời: “Kịp thời xây dựng, hoàn thiện pháp luật và cơ chế, chính sách đột phá để khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển trong những lĩnh vực ưu tiên, đầu tư nghiên cứu phát triển, ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, tham gia vào các nhiệm vụ quan trọng, chiến lược của quốc gia và vươn tầm khu vực, thế giới”.
Nghị quyết số 193/2025/QH15 ngày 19/02/2025 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã quy định một số chính sách đột phá, như: Tổ chức khoa học và công nghệ công lập, cơ sở giáo dục đại học công lập được thành lập, tham gia thành lập doanh nghiệp, tham gia góp vốn vào doanh nghiệp để thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; Chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; Cấp kinh phí nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ theo cơ chế quỹ; Quyền sở hữu, quản lý, sử dụng đối với kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tài sản trang bị để thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ;…
Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 đã thể chế hóa trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo và quy định về các cấp độ, tiêu chí xác định các trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo; Ngày 14/10/2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 268/2025/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo về đổi mới sáng tạo; khuyến khích hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp; công nhận trung tâm đổi mới sáng tạo, hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo; công nhận cá nhân, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; hạ tầng, mạng lưới và hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, trong đó có nội dung quy định chi tiết và hướng dẫn về trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo.
Trong kỷ nguyên Cách mạng Công nghiệp 4.0, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trở thành động lực tăng trưởng kinh tế quan trọng. Tại Việt Nam, Chính phủ coi KNĐMST là trụ cột phát triển bền vững từ năm 2016 với nhiều cải cách và chính sách hỗ trợ. Trong bối cảnh đó, TP.HCM nổi lên như một hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo năng động nhất Việt Nam. Thành phố hiện thu hút gần 50% tổng số startup cả nước và là nơi đặt trụ sở của 3 trong 4 kỳ lân công nghệ Việt Nam, gồm VNG, MoMo và Sky Mavis, khẳng định vị thế vừa là “đầu tàu kinh tế”, vừa là “trung tâm khởi nghiệp sáng tạo” của quốc gia.
Trên trường quốc tế: Báo cáo Global Startup Ecosystem Report (GSER) của Startup Genome liên tục xếp TP.HCM trong nhóm 81-90 các HST mới nổi toàn cầu trong ba năm liên tiếp (2022-2024). Phân tích điểm số năm 2024 cho thấy các trụ cột tương đối mạnh của Thành phố là Tài trợ vốn (5/10) và Nhân tài & Kinh nghiệm (5/10). Tuy nhiên, các điểm yếu cố hữu vẫn còn ở trụ cột Tiếp cận thị trường (1/10) và Tri thức (1/10), cho thấy khả năng vươn ra thị trường quốc tế và năng lực R&D, SHTT còn hạn chế.
Tương tự, báo cáo Global Startup Ecosystem Index (GSEI) của Startup Blink năm 2024 xếp TP.HCM ở vị trí 111 và năm 2025 ở vị trí 110 trên Bảng xếp hạng chỉ số hệ sinh thái khởi nghiệp toàn cầu, duy trì vị thế là thành phố có hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo năng động nhất tại Việt Nam.
Ở cấp độ quốc gia: Chỉ số Đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII)[1] năm 2025 tiếp tục ghi nhận TP.HCM giữ vị trí thứ 2 toàn quốc với 59.33 điểm (năm 2024: 55.81 điểm). Thành phố thể hiện vai trò dẫn đầu ở nhiều chỉ số thành phần quan trọng như hạ tầng số, hoạt động R&D của doanh nghiệp, và số lượng đơn đăng ký nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp.
Bảng 1: Vị thế của TP.HCM trong các Bảng xếp hạng chính (2022-2025)
|
Chỉ số |
Năm 2022 |
Năm 2023 |
Năm 2024 |
Năm 2025 |
Ghi chú |
|
GSER (Startup Genome) |
Nhóm 81-90 |
Nhóm 81-90 |
Nhóm 81-90 |
- |
Xếp hạng các Hệ sinh thái mới nổi toàn cầu. Thứ hạng ổn định. |
|
GSEI (Startup Blink) |
Hạng 111 |
Hạng 114 |
Hạng 111 |
Hạng 110 |
Xếp hạng các thành phố khởi nghiệp toàn cầu. Vị trí cao nhất Việt Nam. |
|
PII (Cấp quốc gia) |
- |
Hạng 2 |
Hạng 2 |
Hạng 2 |
Xếp hạng Đổi mới sáng tạo cấp địa phương. Dẫn đầu nhiều chỉ số thành phần. |
Thành phố có hệ thống chính sách khá đầy đủ, triển khai sớm hơn so với nhiều địa phương, nổi bật là Nghị quyết số 98/2023/QH15 của Quốc hội về thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TPHCM, các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân Thành phố để triển khai Nghị quyết 98/2023/QH15, Đề án 672, Chương trình SpeedUp và các chương trình hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Thành phố giữ vai trò tiên phong trong kết nối với mạng lưới đổi mới sáng tạo quốc gia và hợp tác quốc tế.
Nguồn nhân lực Khởi nghiệp sáng tạo của Thành phố khá chất lượng và đa dạng. Theo khảo sát, 51% nhân lực startup có nền tảng STEM, trong đó nhóm công nghệ thông tin, kỹ thuật, y dược chiếm tỷ lệ cao. 88% doanh nghiệp khởi nghiệp có trên 20% nhân sự trình độ đại học trở lên, phản ánh mặt bằng nhân lực nhìn chung vững vàng. Tuy nhiên, tỷ lệ nhân lực sau đại học vẫn còn hạn chế (19% thạc sĩ, 8% tiến sĩ), chưa đáp ứng đủ cho yêu cầu nghiên cứu chuyên sâu và phát triển công nghệ lõi.
Về nghiên cứu - phát triển, ngân sách KH&CN của Thành phố dành cho R&D chiếm khoảng 2% tổng chi ngân sách địa phương, tập trung chủ yếu vào hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ và các chương trình ươm tạo. TP.HCM cũng có mạng lưới viện - trường lớn nhất cả nước với hơn 70 trường đại học và viện nghiên cứu tham gia hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo. Tuy nhiên, số lượng đơn sáng chế và công bố khoa học quốc tế vẫn còn thấp so với tiềm năng, năm 2024 chỉ ghi nhận khoảng 521 đơn đăng ký sáng chế.
Ngoài ra, sự tham gia của khu vực tư nhân trong hoạt động R&D còn hạn chế, chủ yếu dừng ở mức cải tiến quy trình hoặc sản phẩm, chưa có nhiều đầu tư cho nghiên cứu dài hạn hay công nghệ lõi. Điều này khiến hệ sinh thái gặp khó khăn khi muốn bứt phá sang giai đoạn phát triển công nghệ có giá trị cao.
Nhìn chung, TP.HCM có lợi thế lớn về quy mô nhân lực và hạ tầng đào tạo - nghiên cứu, nhưng để trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo khu vực, Thành phố cần tăng tỷ lệ nhân lực trình độ cao, thúc đẩy nghiên cứu công nghệ lõi, và khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư nhiều hơn cho R&D.
Về cơ sở hạ tầng, TP.HCM hiện dẫn đầu cả nước về hạ tầng công nghệ thông tin, với tỷ lệ phủ sóng internet 100% quận huyện, băng thông rộng cố định và di động thuộc nhóm cao nhất trong khu vực Đông Nam Á. Thành phố đã triển khai thí điểm mạng 5G tại nhiều quận trung tâm, tạo nền tảng quan trọng cho các startup công nghệ số, AI, IoT.
Về hạ tầng vật chất cho khởi nghiệp sáng tạo, Thành phố hiện có hơn 100 không gian làm việc chung (co-working space), nhiều nhất cả nước, trong đó có các đơn vị quốc tế như WeWork, Toong, Up, Block 71 Việt Nam. Ngoài ra, Thành phố có Khu Công nghệ cao TP.HCM (SHTP) và Công viên phần mềm Quang Trung (QTSC) là hai đầu mối R&D và công nghệ thông tin trọng điểm, thu hút nhiều tập đoàn, trung tâm nghiên cứu trong và ngoài nước. Hệ thống các trung tâm ươm tạo, tăng tốc (SIHUB, BSSC,…) phát triển nhanh, tạo không gian thử nghiệm và kết nối cho startup.
Nhìn chung, TP.HCM có hệ thống hạ tầng số và logistics vượt trội, là nền tảng quan trọng cho sự phát triển KNĐMST. Tuy vậy, để đáp ứng yêu cầu của một hệ sinh thái tầm khu vực, Thành phố cần đầu tư thêm cho hạ tầng R&D chuyên sâu, mở rộng không gian sáng tạo, và giải quyết điểm nghẽn về giao thông - chi phí mặt bằng.
Về khả năng hội nhập, TP.HCM là trung tâm kinh tế đối ngoại lớn nhất Việt Nam, chiếm hơn 40% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước và có quan hệ thương mại với hơn 200 quốc gia. Điều này giúp startup dễ dàng tiếp cận thị trường quốc tế, đặc biệt trong các lĩnh vực logistics, fintech, thương mại điện tử, blockchain.
Tuy nhiên, vẫn tồn tại hạn chế: việc doanh nghiệp lớn và cơ quan nhà nước chưa thật sự coi startup là đối tác chiến lược trong cung ứng giải pháp; thủ tục hành chính và đấu thầu công nghệ công vẫn phức tạp, khiến startup khó tiếp cận các hợp đồng lớn. Ngoài ra, tỷ lệ doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trên tổng số DN mới thành lập vẫn còn thấp (0,39/1.000, trong khi Singapore hay Israel đạt 2,8-4,5%).
Nhìn chung, TP.HCM có thị trường nội địa sôi động, hội nhập quốc tế mạnh, là điều kiện thuận lợi cho startup phát triển. Nhưng để bứt phá, cần thúc đẩy chính sách “sandbox” thử nghiệm sản phẩm, khuyến khích doanh nghiệp lớn sử dụng giải pháp của startup, và mở rộng cánh cửa đấu thầu - mua sắm công nghệ cho khu vực khởi nghiệp.
Tỷ lệ doanh nghiệp tham gia các chương trình ươm tạo, tăng tốc, và gọi vốn tại TP.HCM khá cao. Giai đoạn 2016-2022, đã có gần 2 tỷ USD vốn đầu tư mạo hiểm rót vào startup TP.HCM, chiếm khoảng 50% toàn quốc. Riêng năm 2023 ghi nhận 56 thương vụ với tổng vốn 502,7 triệu USD (70% cả nước), đến năm 2024 ghi nhận 77 thương vụ với 260 triệu USD, chiếm 65% cả nước, cho thấy sức hấp dẫn của hệ sinh thái.
Tuy nhiên, tỷ lệ doanh nghiệp khởi nghiệp so với tổng số doanh nghiệp mới thành lập còn thấp (0,39/1.000), thấp hơn nhiều so với mức trung bình quốc tế. Đa số startup vẫn ở quy mô nhỏ, gặp khó khăn về vốn và thị trường, tỷ lệ thất bại còn cao. Việc mở rộng sang quy mô khu vực và toàn cầu vẫn còn hạn chế, chủ yếu tập trung ở vài lĩnh vực công nghệ.
Tổng thể, trụ cột Trình độ phát triển của doanh nghiệp của TP.HCM phản ánh sức mạnh về số lượng, tốc độ phát triển, sự xuất hiện kỳ lân, nhưng cũng cho thấy tính mong manh của phần lớn startup, đòi hỏi sự hỗ trợ mạnh mẽ hơn về vốn, thị trường, và khung chính sách thử nghiệm để tăng tỷ lệ thành công.
TP.HCM giữ vai trò tiên phong trong hoạt động sở hữu trí tuệ của cả nước. Năm 2024, Thành phố ghi nhận 521 đơn đăng ký sáng chế, chiếm khoảng 35% tổng số đơn toàn quốc, cùng hàng nghìn đơn nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp. Tuy vậy, tỷ lệ đơn được cấp bằng còn hạn chế, đặc biệt ở nhóm sáng chế công nghệ lõi, cho thấy khoảng cách giữa nghiên cứu và thương mại hóa.
Về công bố khoa học, các viện - trường tại TP.HCM có số lượng công bố quốc tế tăng đều hằng năm, nhưng vẫn còn khoảng cách lớn với các trung tâm nghiên cứu trong khu vực (Singapore, Seoul, Bangalore). Mối liên kết giữa nghiên cứu và doanh nghiệp còn rời rạc, chưa hình thành hệ thống R&D gắn với nhu cầu thị trường.
Trong lĩnh vực ứng dụng công nghệ, TP.HCM nổi bật ở Fintech, Edtech, Healthtech, Blockchain và AI. Đặc biệt, lĩnh vực Healthtech ghi nhận vốn đầu tư tăng tới 391% trong năm 2023, trong khi Edtech tăng 107%, phản ánh xu hướng dịch chuyển vốn vào các ngành có tiềm năng xã hội cao.
Một điểm tích cực là ngày càng nhiều doanh nghiệp ứng dụng AI và blockchain để tạo ra mô hình kinh doanh mới, với các sản phẩm như ví điện tử, ngân hàng số, game blockchain, học trực tuyến cá nhân hóa. Tuy nhiên, năng lực bảo hộ, khai thác và thương mại hóa tài sản trí tuệ vẫn chưa tương xứng với tiềm lực của Thành phố; nhiều startup chưa chú trọng đăng ký sở hữu trí tuệ ngay từ đầu, dễ dẫn đến rủi ro tranh chấp.
Nhìn chung, TP.HCM có tiềm năng lớn về sản phẩm trí tuệ và công nghệ, đã có bước tiến mạnh ở các lĩnh vực mới nổi. Song, cần đẩy mạnh cơ chế bảo hộ - khai thác tài sản trí tuệ, tăng cường gắn kết viện - trường - doanh nghiệp, và khuyến khích đầu tư vào công nghệ lõi để nâng cao năng lực cạnh tranh toàn cầu.

Dưới đây là bảng tóm tắt tổng hợp SWOT (Điểm mạnh, Điểm yếu, Cơ hội, Thách thức) của hệ sinh thái khởi nghiệp TP.HCM:
|
Strengths - Điểm mạnh |
Weaknesses - Điểm yếu |
|
Hệ sinh thái lớn nhất cả nước, tập trung ~50% startup Việt Nam, nhiều cơ sở ươm tạo, trường đại học / viện nghiên cứu và quỹ VC hoạt động |
Năng lực quản trị và mở rộng quy mô còn hạn chế ở nhiều startup, khả năng thoái vốn còn thấp cho thấy các startup gặp khó khăn khi mở rộng quy mô cũng như chưa hấp dẫn đối với VC |
|
Nguồn nhân lực trẻ, tinh thần doanh nhân cao, nhiều trường đại học chất lượng và bắt đầu có các chương trình đào tạo về khởi nghiệp sáng tạo |
Startup còn thiếu kiến thức về khởi nghiệp sáng tạo, thiếu kỹ năng mềm và ngoại ngữ nên còn hạn chế tiếp cận thị trường quốc tế |
|
Thu hút ~60% thương vụ đầu tư, ~44% vốn đầu tư mạo hiểm của cả nước |
Cạnh tranh thu hút nhân tài với doanh nghiệp lớn và thị trường quốc tế |
|
Xuất hiện một số kỳ lân và nhiều startup gọi vốn thành công từ quốc tế |
Hệ sinh thái thiếu các doanh nghiệp công nghệ lớn làm đầu tàu quy mô lớn tạo lực kéo ngành |
|
Mạng lưới hỗ trợ đa dạng: SIHUB, vườn ươm, quỹ VC, chương trình tăng tốc, các tổ chức quốc tế đồng hành |
Thiếu dữ liệu thị trường tập trung và hệ thống KPI đo lường hiệu quả toàn diện |
|
Opportunities - Cơ hội |
Threats - Thách thức |
|
Chính sách hỗ trợ đặc thù theo Nghị quyết 98 (sandbox, ưu đãi thuế, sandbox fintech, AI, blockchain…) |
“Mùa đông gọi vốn” kéo dài, dòng tiền vào startup toàn cầu giảm mạnh |
|
Dân số trẻ, tầng lớp trung lưu tăng -> thị trường tiêu dùng số rộng lớn |
Cạnh tranh gay gắt từ các hệ sinh thái khởi nghiệp ASEAN (Singapore, Jakarta, Bangkok...) |
|
Vốn FDI, quỹ đầu tư quốc tế chuyển hướng vào Việt Nam (đa dạng lĩnh vực: healthtech, edtech, greentech) |
Hạ tầng pháp lý chậm thích ứng, thiếu khung cho công nghệ mới như blockchain, metaverse, tokenization... |
|
Cộng đồng startup người Việt ở nước ngoài bắt đầu quay lại đầu tư, chuyển giao tri thức Việt Nam đang có thế mạnh trong lĩnh vực AI, Blockchain và có thể tận dụng điều này để thu hút đầu tư cũng như tạo ra các công ty dẫn đầu. Đồng thời, xu hướng chuyển đổi số và thương mại điện tử phát triển mạnh tại Đông Nam Á, tạo cơ hội lớn cho startup TP.HCM mở rộng thị trường |
“Chảy máu chất xám”: nhân sự giỏi ra nước ngoài làm việc hoặc startup tại các quốc gia hỗ trợ tốt hơn |
|
Kết nối mạnh mẽ trong khu vực: hợp tác Singapore, Nhật, Mỹ, Hàn Quốc thông qua các chương trình R&D |
Quy mô thị trường nội địa hạn chế trong một số lĩnh vực (deeptech, công nghệ lõi) cản trở tăng trưởng quy mô lớn |
Thực hiện mô hình chính quyền 2 cấp từ ngày 01/7/2025, Thành phố Hồ Chí Minh hợp nhất với tỉnh Bình Dương và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là bước ngoặt trong lịch sử phát triển đô thị Việt Nam, mở ra cơ hội mở rộng thị trường, tăng sức hút đầu tư, kết nối hạ tầng, kết nối chuỗi sản xuất và nâng tầm vị thế quốc tế, tiếp cận nguồn tài chính, công nghệ tiên tiến. Đây là sự cấu hình lại toàn diện không gian phát triển, nơi ba cực kinh tế năng động bậc nhất cả nước hội tụ, với tầm nhìn mới là “siêu đô thị quốc tế” của Đông Nam Á, top 100 thành phố đáng sống nhất thế giới, nhằm thực hiện sứ mệnh tiên phong, dẫn dắt và lan tỏa phát triển cho cả nước. Với thế mạnh là những địa phương phát triển hàng đầu, ba địa phương hợp nhất đã tạo nên một thực thể hành chính - kinh tế đặc biệt, bổ sung cho nhau khá hoàn chỉnh, tái cấu trúc không gian phát triển theo tư duy “một trung tâm, ba vùng, một đặc khu”, tối ưu hóa chia sẻ lợi thế so sánh của từng khu vực hội tụ các điều kiện để trở thành siêu đô thị đa trung tâm phát triển theo bốn hành lang, với năm trụ cột (trung tâm công nghiệp, logistics; trung tâm tài chính quốc tế; du lịch và công nghiệp văn hóa; trung tâm giáo dục - y tế - khoa học công nghệ).
Tổng diện tích của Thành phố Hồ Chí Minh (sau sáp nhập) đạt 6.773 km2, tương đương 2,04% diện tích cả nước. Dân số mới ước tính 13,608 triệu người, chiếm 13,4% dân số cả nước (101,344 triệu người). Trong đó, lực lượng lao động đang làm việc đạt khoảng 7,281 triệu người, tương ứng 14% tổng số lao động toàn quốc (51,806 triệu người). GRDP của Thành phố Hồ Chí Minh năm 2025 được ước tính là khoảng 3,03 triệu tỷ đồng (tương đương 123 tỷ USD) sau khi hợp nhất với Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu. GRDP bình quân đầu người ước tính 220 triệu đồng (khoảng 8.944 USD), gấp 1,7 lần bình quân cả nước. Đây là những nguồn lực đủ lớn, là tiền đề thuận lợi cho quy hoạch vùng đô thị tích hợp, góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp - dịch vụ vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
Thành phố Hồ Chí Minh luôn là đầu tàu kinh tế, dần trở thành “công xưởng” sản xuất chính, không chỉ của Việt Nam mà còn của nhiều chuỗi giá trị toàn cầu ở các lĩnh vực đa dạng. Tuy nhiên, chiến lược phát triển như vậy cũng đã dần tiệm cận tới giới hạn và đặt ra cho Thành phố Hồ Chí Minh những bài toán lớn phải giải quyết trong giai đoạn phát triển mới.
Để tham gia thành công vào những khâu có giá trị gia tăng cao hơn trong các chuỗi giá trị toàn cầu, hay làm chủ một số ngành công nghiệp trong nước, hướng đến thị trường thế giới, thì năng lực của hệ thống đổi mới sáng tạo của Thành phố phải được nâng lên tầm cao mới. Với vị thế của quốc gia đi sau, nền tảng khoa học công nghệ chưa có chiều sâu (so với các nước phát triển), Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng sẽ vẫn phải chủ động khai thác kho tàng tri thức nhân loại, bao gồm cả tri thức công nghệ và các công nghệ hiện có cho hoạt động kinh tế của mình. Mặt khác, luôn có những lĩnh vực hẹp, chuyên biệt mà ở đó chúng ta có nền tảng, thế mạnh về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, có thể tạo ra những kết quả có triển vọng kinh tế cao, cần được khai thác thương mại để làm chủ một số ngành, hay thậm chí tạo dựng những ngành mới có lợi ích kinh tế vượt trội.
Trong nỗ lực này có sự tham gia đặc biệt quan trọng của những tổ chức có năng lực tập hợp nguồn lực, điều phối đóng góp của các bên, cho phép nắm bắt, sàng lọc, lựa chọn, thử nghiệm, chuyên biệt hóa tri thức công nghệ đến mức độ cho phép cộng đồng doanh nghiệp ở Việt Nam có thể khai thác, sử dụng kịp thời, hữu hiệu. Tương tự như vậy, để những kết quả nghiên cứu trong nước ở những lĩnh vực ta có thế mạnh có thể đi vào cuộc sống, tạo ra giá trị vượt trội, sẽ cần những thực thể có đủ năng lực chuyên môn, hạ tầng kỹ thuật, vị thế điều phối, mạng lưới liên kết để nâng mức độ sẵn sàng của công nghệ mới tới mức mà cộng đồng doanh nghiệp hiện nay có thể khai thác được hiệu quả hoặc nuôi dưỡng được những doanh nghiệp khởi nghiệp trực tiếp khai thác thương mại những công nghệ mới đó.
Để hỗ trợ cho sự phát triển của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, Thành phố đã phát triển hơn 55 tổ chức (thuộc nhà nước và doanh nghiệp) là Trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo, trung tâm ươm tạo. Những tổ chức này trong thời gian qua đã đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối quốc tế, là cầu nối để đưa doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo của Thành phố tiếp cận các quỹ đầu tư, mở rộng thị trường, thúc đẩy hoàn thiện các sản phẩm và mô hình kinh doanh mới có tiềm năng tăng trưởng. Thực tiễn cho thấy các tổ chức như trên được thể chế hóa theo nhiều mô hình khác nhau, với tên gọi khác nhau, nhưng tên gọi phổ biến nhất là các Trung tâm Đổi mới sáng tạo, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp, trung tâm ươm tạo doanh nghiệp. Với chức năng một phần mang tính công ích, các Trung tâm thường nhận được sự hỗ trợ quan trọng, lâu dài của các tổ chức công, hay chung hơn là của nhà nước. Mặt khác, với tâm thế nhắm tới thị trường, các Trung tâm thường được quản lý và vận hành gần với những nguyên tắc của thị trường, dù phần lớn được định hình là những tổ chức không vì lợi nhuận (not for profit).
Thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh, các Trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp, ươm tạo doanh nghiệp đóng vai trò là bệ đỡ ban đầu cho các ý tưởng khởi nghiệp sáng tạo, các doanh nghiệp khởi nghiệp giai đoạn ban đầu còn hạn chế về năng lực quản trị, triển khai hoàn thiện sản phẩm và mô hình. Sự tham gia ban đầu ở giai đoạn sớm này của các đơn vị công lập đã góp phần thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp của thành phố, làm tiền đề cho sự tham gia của các đơn vị tư nhân trong hoạt động hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo. Giai đoạn 2021 -2025, Thành phố đã triển khai Đề án 672 cùng với sự hỗ trợ từ chính sách đặc thù theo Nghị quyết số 98/2023/NQ-QH15 để hỗ trợ kinh phí không hoàn lại cho các dự án đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo trên địa bàn thành phố trong 3 giai đoạn: tiền ươm tạo, ươm tạo và tăng tốc đã góp phần tạo thêm động lực phát triển cho hệ sinh thái thành phố. Nhiều trung tâm thuộc khu vực tư cũng đã chủ động triển khai các chương trình, sự kiện về khởi nghiệp sáng tạo với quy mô tham gia từ các tổ chức, doanh nghiệp quốc tế đã nâng cao vị thế của thành phố trong bức tranh chung của hoạt động khởi nghiệp sáng tạo với các quốc gia trong khu vực. Điều này cho thấy đã xuất hiện những yếu tố nền tảng ban đầu tốt để cho thành phố hình thành mạng lưới các trung tâm đổi mới sáng tạo trong nước và quốc tế.
Mạng lưới trung tâm này trong giai đoạn phát triển mới, với vị thế tiên phong vì cả nước, cùng cả nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, sẽ hỗ trợ Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết nhiều vấn đề phức tạp như phân tích ở trên để thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển nhanh, bền vững, hướng tới 100 năm thành lập Đảng (2030), đưa Thành phố trở thành một đô thị văn minh, hiện đại, trung tâm đổi mới sáng tạo, năng động, hội nhập đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, có vị trí nổi trội ở khu vực Đông Nam Á, nằm trong nhóm 100 thành phố toàn cầu, đáng sống và có hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của thế giới.
Để thực hiện mục tiêu trên, giải quyết các vấn đề lớn về khai thác tri thức công nghệ của thế giới và phát triển thương mại hóa tri thức công nghệ mới được tạo ra, Thành phố Hồ Chí Minh cần xây dựng một Mạng lưới các Trung tâm Đổi mới sáng tạo với vài phân nhóm chuyên biệt nhằm giải quyết những vấn đề riêng, với các mô hình đa dạng cho phép huy động mọi nguồn lực, khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế, vị trí chiến lược, tận dụng phát huy nền tảng, mạng lưới chuyên gia sẵn có, vận dụng mọi cơ chế ưu đãi đặc thù. Đề án phát triển mạng lưới Trung tâm Đổi mới sáng tạo tầm cỡ quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh
cần theo một số giai đoạn, dựa trên những nền tảng sẵn có là hết sức cấp thiết. Việc điều chỉnh thể chế sâu rộng, khẩn trương, linh hoạt trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cùng với sự ra đời của địa giới hành chính mới và sự phân cấp thẩm quyền sâu rộng hơn cho địa phương cũng là yếu tố quan trọng bảo đảm tính khả thi của Đề án này.
II. KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ TRUNG TÂM ĐỔI MỚI SÁNG TẠO
Trên thế giới cụm từ Trung tâm Đổi mới sáng tạo (Innovation Centre, Innovation Hub) có thể dùng để chỉ vị trí, vai trò trung tâm của một khu vực địa lý (một quốc gia, vùng, thành phố, khu vực trong thành phố v.v.) về hoạt động đổi mới sáng tạo, nơi hội tụ của đa dạng các hoạt động sôi nổi liên quan đến đổi mới sáng tạo, sản sinh ra nhiều doanh nghiệp cạnh tranh thành công toàn cầu dựa vào đổi mới sáng tạo. Có thể điểm tên một số ví dụ như Silicon Valley của Hoa Kỳ, Trung Quan Thôn của Trung Quốc. Nhiều vùng đô thị trên thế giới cũng đặt mục tiêu trở thành Trung tâm Đổi mới sáng tạo theo nghĩa này và Thành phố Hồ Chí Minh cũng nằm trong số đó. Tuy nhiên, trong Đề án này, khái niệm Trung tâm Đổi mới sáng tạo được dùng để nói đến các thực thể, tổ chức có chức năng hỗ trợ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp, cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt khi việc thực hiện các chức năng này đòi hỏi có sự tham gia hỗ trợ của nhà nước do “lỗi thị trường” hoặc “lỗi hệ thống”. Trung tâm Đổi mới sáng tạo là thực thể có tư cách pháp nhân, con dấu riêng, thường liên kết với các tổ chức cùng loại để tạo thành mạng lưới, mang lại ưu điểm của hệ thống.
Mặc dù có nhiều mô hình khác nhau, với tên gọi đa dạng về trung tâm đổi mới sáng tạo, điểm chung của các trung tâm này là những thực thể vật lý (không phải nền tảng ảo), được đầu tư thỏa đáng để thực hiện vai trò cầu nối giữa nguồn tri thức công nghệ mới, (hoặc công nghệ ổn định nhưng không sẵn có, không dễ tiếp cận) với các thực thể sử dụng công nghệ. Theo thang phân loại mức độ sẵn sàng của công nghệ (từ 1 đến 9) thì Trung tâm Đổi mới sáng tạo hoạt động chủ yếu với công nghệ có mức độ sẵn sàng từ mức 3-4 (công nghệ được kiểm chứng trong phòng thí nghiệm) đến mức 8-9 (công nghệ được trình diễn trong môi trường vận hành thực tế) với mục tiêu là hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện đổi mới sáng tạo hoặc giải quyết vấn đề đổi mới sáng tạo thông qua thương mại hóa công nghệ mới, hoặc ứng dụng, khai thác những công nghệ đã ổn định (nhưng không dễ tiếp cận, không sẵn có). Việc tập trung vào công nghệ mới, hay công nghệ ổn định cũng như đối tượng phục vụ chính sẽ là những đặc điểm cơ bản để phân loại Trung tâm Đổi mới sáng tạo thành các nhóm sau đây.
2.2. Trung tâm Đổi mới sáng tạo định hướng công nghệ mới
Trung tâm Đổi mới sáng tạo loại này thường tập trung vào việc đánh giá, lựa chọn, hoàn thiện, thương mại hóa công nghệ mới từ cơ sở nghiên cứu, đại học để chuyển giao cho doanh nghiệp, hoặc đi đến thúc đẩy thành lập doanh nghiệp để khai thác công nghệ mới. Chức năng chủ yếu của trung tâm là điều phối, trực tiếp tham gia thực hiện các nghiên cứu ứng dụng, phát triển công nghệ mới, có triển vọng thương mại cao, thực hiện các bước thử nghiệm, thiết kế, hoàn chỉnh công nghệ đến mức độ sẵn sàng 8, tiến đến thương mại hóa công nghệ thông qua chuyển giao công nghệ hoặc thành lập các doanh nghiệp phái sinh (spin-outs) khai thác công nghệ mới. Năng lực chủ yếu của trung tâm loại này là năng lực về nghiên cứu ứng dụng, hoàn thiện công nghệ, thương mại hóa công nghệ, do vậy thường có hạ tầng, trang thiết bị nghiên cứu, thử nghiệm công nghệ rất quy mô và hiện đại.
Lý do chủ yếu để nhà nước phải tham gia đầu tư và hỗ trợ hoạt động của các trung tâm này là do Trung tâm Đổi mới sáng tạo này sẽ cho phép các doanh nghiệp tiếp cận với chi phí hợp lý các chuyên gia có kiến thức chuyên môn kỹ thuật sâu, hạ tầng, máy móc thiết bị nghiên cứu, đo lường, kiểm chuẩn tiên tiến, các kỹ năng chuyên biệt, tất cả thường nằm ngoài khả năng đầu tư của từng doanh nghiệp riêng lẻ, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa trong việc khai thác tiềm năng của công nghệ mới. Trong khi đó, nếu được tiếp cận và hỗ trợ đúng, đổi mới sáng tạo mà cộng đồng doanh nghiệp thực hiện thành công sẽ mang lại lợi ích vượt trội, xét trên tổng thể dài hạn, so với khoản đầu tư hỗ trợ của nhà nước. Ngoài ra các trung tâm còn đóng vai trò là tiêu điểm của các hoạt động nghiên cứu và đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp mới. Trung tâm thúc đẩy việc chia sẻ hạ tầng nghiên cứu và các công cụ cũng như trao đổi tri thức không công bố và nhiều tri thức kỹ thuật hữu ích khác.
Thuộc nhóm này điển hình có hệ thống các viện nghiên cứu ứng dụng Fraunhofer của Đức, Viện nghiên cứu công nghệ công nghiệp Đài Loan (ITRI), mạng lưới trung tâm công nghệ và đổi mới sáng tạo Catapult của Vương quốc Anh, mạng lưới viện Carnot của Pháp. Ngoại trừ trường hợp ITRI khi thành lập được tập trung vào một nhiệm vụ duy nhất là hình thành ngành bán dẫn của Đài loan, mô hình tổ chức hệ thống Trung tâm Đổi mới sáng tạo của các nước thường theo dạng mạng lưới, gồm nhiều trung tâm độc lập, mỗi trung tâm tập trung vào một lĩnh vực công nghệ chuyên sâu, về tổ chức thường gắn với một đại học hoặc viện nghiên cứu nhưng là một pháp nhân độc lập, thỏa mãn các tiêu chí thành viên do một cơ quan chức năng của nhà nước định ra, khi được chấp thuận sẽ nhận được đầu tư dài hạn của nhà nước dù là một phần, cả về đầu tư cho hạ tầng và chi phí vận hành dài hạn. Những trung tâm này được yêu cầu tuân thủ chế độ định kỳ báo cáo, đánh giá, có KPI cụ thể và việc đánh giá sẽ quyết định việc nhà nước đầu tư tiếp cho giai đoạn tiếp theo.
2.3. Trung tâm Đổi mới sáng tạo định hướng khuyến công nghệ
Trung tâm Đổi mới sáng tạo định hướng khuyến công nghệ tập trung vào sàng lọc, tìm kiếm công nghệ, xây dựng mạng lưới chuyên gia, kỹ sư thực địa, thạo thực tiễn doanh nghiệp để tiếp cận hướng dẫn hỗ trợ doanh nghiệp theo phương thức cầm tay chỉ việc, giúp doanh nghiệp khai thác hiệu quả các công nghệ ổn định (không mới, nhưng không dễ tiếp cận, không sẵn có), hoặc tìm kiếm chuyên gia, tổ chức nghiên cứu ứng dụng tìm giải pháp cho những vấn đề đặc thù của doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp.
Lý do nhà nước phải tham gia hỗ trợ các Trung tâm Đổi mới sáng tạo loại này là bởi “lỗi thị trường” liên quan tới các dịch vụ kỹ thuật phục vụ SMEs. Thứ nhất, doanh nghiệp có thể thiếu thông tin nếu không nhận được tín hiệu từ khách hàng, nhà cung cấp, hoặc đối thủ cạnh tranh gợi ý những cải tiến, đổi mới sáng tạo có thể thực hiện được. Thứ hai, giải pháp doanh nghiệp cần có thể không có sẵn với giá cả hợp lý do thị trường của loại dịch vụ này quá nhỏ. Ngoài ra còn có những thất bại thị trường khác như:
- Thất bại về thông tin. SMEs không có đủ kiến thức và nguồn lực để tìm hiểu những vấn đề riêng của họ.
- Thất bại do sự không chắc chắn. SMEs có thể biết họ cần phải cải thiện điều gì nhưng hoài nghi về lợi ích của dự án cải tiến so với khoản đầu tư.
- Bất đối xứng thông tin. SMEs không biết được ai là người có thể hỗ trợ họ hoặc ai không đủ kiến thức để đánh giá chất lượng của dịch vụ đã được hỗ trợ cải tiến.
- Thất bại thị trường tài chính. Tín dụng để tài trợ cho các dự án cải tiến ở khu vực doanh nghiệp SMEs thường rất hạn chế.
- Thất bại về điều phối và chi phí cố định. Đối với từng SME riêng biệt thì chi phí cho chương trình cải tiến thường khá cao do quy mô thị trường dịch vụ loại này thường là nhỏ, một phần do SMEs không có khả năng phát tín hiệu về nhu cầu đối với dịch vụ kỹ thuật mà họ cần. Chỉ khi các dịch vụ được cung cấp cho nhiều khách hàng thì chi phí đơn vị mới giảm đến mức SMEs có thể chi trả được.
Một lý do nữa khiến nhà nước cần can thiệp xây dựng các Trung tâm Đổi mới sáng tạo loại này là nhằm khắc phục “lỗi hệ thống”, đặc biệt trong hệ thống đổi mới sáng tạo ở các nước đang phát triển, bao gồm:
- Lỗi cung cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật;
- Lỗi chuyển tiếp (transitional failures), tức là các nước đi sau có khả năng hạn chế hơn để nhìn trước sự hình thành của những nền tảng công nghệ mới;
- Lỗi mắc kẹt (lock - in), theo nghĩa các nước đi sau bị mắc kẹt với những hệ thống công nghệ đã có;
- Lỗi về thể chế chính thức và không chính thức như luật pháp, quy định, quy tắc hành xử cản trở đổi mới sáng tạo và xây dựng năng lực;
- Lỗi liên kết mạng lưới như mật độ trao đổi tri thức còn yếu hoặc các liên kết quá chặt khiến bị mù trước những thay đổi ở bên ngoài mạng lưới.
- Lỗi năng lực và học hỏi như trình độ, kiến thức chuyên môn của doanh nghiệp không đủ để doanh nghiệp có thể học hỏi, hấp thu hay tạo ra công nghệ mới.
- Lỗi hỗ trợ bổ sung (complementarity failures) như các tri thức, kỹ năng của các cấu phần của hệ thống không bổ sung, bù đắp được cho nhau.
Thực tiễn tại nhiều nước đang phát triển cho thấy các thực thể trong hệ thống đổi mới có thể tìm ra, xây dựng những cách thức phù hợp để vượt qua, khắc phục những lỗi hệ thống trên đây để thực hiện những đổi mới thiết thức phù hợp với bối cảnh. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp doanh nghiệp không tự nhìn ra những vấn đề của họ hoặc có nhìn ra cũng không đủ năng lực, không đủ kết nối và hỗ trợ từ bên ngoài để giải quyết. Mạng lưới các Trung tâm Đổi mới sáng tạo định hướng khuyến công nghệ phù hợp có thể giúp khắc phục những lỗi hệ thống như vậy.
Thuộc nhóm Trung tâm Đổi mới sáng tạo loại này điển hình có Chương trình khuyến sản xuất (MEP) của Hoa kỳ, Chương trình hỗ trợ nghiên cứu công nghiệp của Canada (IRAP), Hệ thống trung tâm công nghệ địa phương của Nhật bản (Kosetsushi). Điểm chung của các chương trình này là sử dụng ngân sách nhà nước để hỗ trợ (một phần) việc thành lập và vận hành mạng lưới các Trung tâm Đổi mới sáng tạo ở các địa phương trải khắp trên cả nước. Việc thực thể nào được chọn hỗ trợ đầu tư thành lập trung tâm phụ thuộc nhiều yếu tố, nhưng quan trọng nhất là quá trình đánh giá hồ sơ tham gia mạng lưới trên cơ sở những tiêu chí đánh giá lựa chọn cụ thể. Trung tâm ở vùng nào thường tập trung vào hỗ trợ doanh nghiệp giải quyết vấn đề công nghệ của những ngành quan trọng, tập trung ở vùng đó. Phương thức hoạt động chính của loại trung tâm này là dựa vào mạng lưới các chuyên gia, kỹ sư thực địa, những người rất am hiểu về công nghệ, về hoạt động của cộng đồng doanh nghiệp trong vùng, trong những ngành cụ thể. Mạng lưới chuyên gia này hoạt động theo phương châm chủ động tìm đến doanh nghiệp, phát hiện cơ hội đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp, cùng doanh nghiệp xây dựng phương án thực hiện đổi mới sáng tạo dựa trên việc áp dụng những giải pháp, công nghệ đã có nhưng là mới so với doanh nghiệp, và doanh nghiệp không dễ tiếp cận.
2.4. Trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo
Trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo (khởi nghiệp sáng tạo) là tổ chức thúc đẩy đổi mới sáng tạo nhưng nhằm vào một nhóm đối tượng chuyên biệt là các doanh nghiệp khởi nghiệp, đặc biệt khởi nghiệp dựa trên đổi mới sáng tạo. Việc hỗ trợ chủ yếu nhằm vào cung cấp hạ tầng thiết yếu về văn phòng dưới hình thức khu làm việc chung, phòng lab cho phép chế thử mẫu sản phẩm, đo kiểm các thông số kỹ thuật cơ bản, hỗ trợ các dịch vụ pháp lý, tài chính, tư vấn các kỹ năng gọi vốn, v.v. nhìn chung là những dịch vụ đi theo giai đoạn đầu của các dự án khởi nghiệp. Các tổ chức này có nhiều loại, chức năng thường giao thoa nhau, có thể điểm ra một số loại như sau.
Vườn ươm doanh nghiệp (business incubator) là các tổ chức cung cấp một môi trường được bảo vệ, cung cấp các nguồn lực dùng chung bao gồm không gian làm việc, dịch vụ hành chính, và tư vấn quản trị cơ bản. Mục tiêu cốt lõi của vườn ươm là giảm thiểu rủi ro và tăng tỷ lệ sống sót (survival rate) cho các công ty mới thành lập (startups) ở giai đoạn ý tưởng hoặc sơ khai. 1871 (Chicago, Mỹ) là một trong những vườn ươm phi lợi nhuận hàng đầu, tập trung vào công nghệ số và kỹ thuật số. 1871 cung cấp không gian làm việc, cố vấn, và một mạng lưới đối tác khổng lồ (gồm các trường đại học và tập đoàn) để nuôi dưỡng các công ty ở giai đoạn rất sớm.
Tổ chức tăng tốc khởi nghiệp (Accelerators) là tổ chức hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp thông qua việc huấn luyện các cá nhân khởi nghiệp theo các chương trình có thời gian cố định (thường là 3-6 tháng), hoạt động theo mô hình lớp (cohort-based), cung cấp vốn hạt giống (seed funding) để đổi lấy một tỷ lệ cổ phần (equity). Giá trị cốt lõi của accelerators nằm ở việc giáo dục khởi nghiệp cường độ cao, hoạt động cố vấn (mentoring) chuyên sâu từ các chuyên gia trong ngành, và khả năng kết nối mạng lưới (networking) ưu việt, thường đạt cao trào bằng một sự kiện "Demo Day" để trình bày trước các nhà đầu tư mạo hiểm (VCs). Mục tiêu của loại hình tổ chức này không phải là "nuôi dưỡng" mà là "tăng tốc" quá trình tìm kiếm sự phù hợp của sản phẩm với thị trường và chuẩn bị cho vòng gọi vốn tiếp theo. Y Combinator (Mỹ) là ví dụ "kinh điển" và thành công nhất. YC nổi tiếng với chương trình 3 tháng cường độ cao, đầu tư vốn mồi (seed funding) 125.000 USD đổi lấy 7% cổ phần (mô hình chuẩn trước đây). Họ là bệ phóng của các "kỳ lân" như Airbnb, Dropbox, Stripe, và Reddit.
Mô hình Tổ chức Kiến tạo (Venture Builder - VB), hay còn gọi là Startup Studio, là tổ chức chủ động xác định cơ hội thị trường, phát triển ý tưởng từ nội bộ, và sau đó xây dựng công ty xung quanh ý tưởng đó. VB được ví như một "nhà máy startup" (startup factory), nơi cung cấp một cơ sở hạ tầng nguồn lực chia sẻ (vốn, công nghệ, pháp lý, nhân sự) và đóng vai trò tích cực như một đồng sáng lập (co-founder), nắm giữ một tỷ lệ cổ phần đủ lớn có khả năng chi phối và tham gia vận hành dài hạn cho đến khi startup đạt được sự trưởng thành nhất định. Idealab (Mỹ) được thành lập bởi Bill Gross là một trong những venture builder tiên phong và lâu đời nhất (từ 1996). Idealab tự phát triển ý tưởng nội bộ, thử nghiệm nhanh, sau đó xây dựng đội ngũ và thành lập công ty riêng cho các ý tưởng thành công. Rocket Internet (Đức) nổi tiếng với mô hình "nhân bản" các mô hình kinh doanh thành công (như Amazon, Zappos) và triển khai tức thì tại các thị trường mới nổi (Đông Nam Á, Châu Phi). Lazada, Zalora là các ví dụ điển hình từ lò Rocket Internet.
Một số tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp chuyên biệt hóa vào hỗ trợ các start-up dựa trên công nghệ chuyên sâu (deeptech), thường gắn với các đại học, trung tâm nghiên cứu mạnh về lĩnh vực công nghệ tương ứng, thường kèm mục tiêu thương mại hóa những công nghệ mới. Loại trung tâm này thường gắn liền với hoặc là một bộ phận chức năng của Trung tâm Đổi mới sáng tạo hướng công nghệ mới như mô tả trong mục 2.2 trong Đề án này.
2.5. Trung tâm Đổi mới sáng tạo của các tập đoàn
Một loại Trung tâm Đổi mới sáng tạo nữa là các Phòng Thí nghiệm Đổi mới sáng tạo của Tập đoàn (Corporate Innovation Labs). Đây là kết quả của việc các tập đoàn thực hiện chiến lược "đổi mới sáng tạo mở" (Open Innovation). Trung tâm loại này là các đơn vị chuyên biệt được các tập đoàn lớn thành lập nhằm mục đích khám phá các công nghệ đột phá và mô hình kinh doanh mới bên ngoài cấu trúc vận hành cốt lõi của công ty mẹ. Các "lab" này có thể hoạt động như một vườn ươm hoặc tăng tốc nội bộ (intrapreneurship) hoặc tương tác, hợp tác với các startup bên ngoài. Mục tiêu cuối cùng là giúp tập đoàn thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của thị trường, tiếp cận các giải pháp đổi mới và thúc đẩy văn hóa sáng tạo trong tổ chức, mặc dù thách thức lớn nhất vẫn là việc tích hợp thành công các sáng kiến này trở lại với hoạt động kinh doanh chính.
Các ví dụ có thể kể đến gồm X, the Moonshot Factory (Alphabet/Google, Mỹ) là một ví dụ. Đây là nơi khai sinh ra các dự án "viển vông" nhưng đột phá như xe tự lái Waymo, kính thông minh Google Glass, và dự án năng lượng Makani. Đây là mô hình "lab" tập trung vào các công nghệ cực kỳ mới (moonshot) với rủi ro cao. Một ví dụ nữa là PARC của Xerox, Mỹ. Phòng lab của Xerox này đã sáng chế ra giao diện đồ họa người dùng (GUI), con chuột máy tính, và mạng Ethernet, những thứ định hình máy tính cá nhân hiện đại.
2.6. Bài học từ kinh nghiệm quốc tế
Có rất nhiều mô hình hoạt động và tổ chức của các Trung tâm Đổi mới sáng tạo, mạng lưới Trung tâm Đổi mới sáng tạo trên thế giới, tuy nhiên phần lớn các mô hình này được xây dựng trong bối cảnh các nước công nghiệp phát triển, giàu truyền thống về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, với hệ thống đổi mới sáng tạo đã phát triển tương đối đầy đủ, và có thực lực.
Việc phát triển mạng lưới Trung tâm Đổi mới sáng tạo tầm cỡ quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh có thể học hỏi được nhiều từ kinh nghiệm quốc tế trên đây, tuy nhiên sẽ cần lựa chọn loại hình, phân chia giai đoạn có tính đến đặc thù của thành phố, tính chất “công xưởng’ cùng sự phụ thuộc của nền kinh tế vào các chuỗi giá trị toàn cầu do các tập đoàn nước ngoài chi phối, năng lực quản trị còn hạn chế của cả khu vực tư và khu vực công; năng lực nghiên cứu, kỹ năng đổi mới sáng tạo hạn chế của khu vực đại học, hoạt động kiểu ốc đảo của các công ty FDI, của các tập đoàn lớn.
Để có thể thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đã đặt ra, Thành phố sẽ cần phải hình thành tất cả các loại hình Trung tâm Đổi mới sáng tạo đã khảo cứu trên đây. Tuy nhiên, việc này cần dựa vào những nền tảng có sẵn, tương đối gần với một số mô hình quốc tế thành công, hướng các trung tâm vào những mục tiêu vừa sức, có thể quản lý được, có thể huy động các nguồn lực phù hợp để phát triển và vận hành, tập trung vào phạm vi hẹp trước khi mở rộng và nhân rộng mô hình. Ngay với những bước đi thận trọng và quy mô khiêm tốn như vậy, đầu tư của nhà nước vẫn phải tới ngưỡng, dài hạn, tạo động lực học hỏi từng bước làm chủ hoạt động của những trung tâm này.
3.1 Mục tiêu tổng quát
Hình thành mạng lưới đa dạng các Trung tâm Đổi mới sáng tạo tầm cỡ quốc tế, được hỗ trợ và điều phối hoạt động bởi cơ quan chức năng của thành phố, cho phép đáp ứng nhiều loại nhu cầu đổi mới sáng tạo khác nhau, trở thành hạ tầng chiến lược trong hệ thống đổi mới sáng tạo của thành phố, hướng tới việc đưa Thành phố Hồ Chí Minh thành trung tâm đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp tầm cỡ quốc tế.
3.2 Mục tiêu cụ thể
Xác định hướng ưu tiên và bộ tiêu chí xác định các chủ thể tham gia mạng lưới Trung tâm Đổi mới sáng tạo tầm cỡ quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh cho 3 loại trung tâm gồm: Trung tâm Đổi mới sáng tạo định hướng công nghệ mới, Trung tâm Đổi mới sáng tạo định hướng khuyến công nghệ, và Trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.
* Giai đoạn 2026 -2027: Phát triển ít nhất 04 Trung tâm đổi mới sáng tạo có quy mô đáp ứng cơ bản các tiêu chí công nhận Trung tâm Đổi mới sáng tạo cấp quốc gia, 03 trung tâm đổi mới sáng tạo/hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo cấp tỉnh; có thể tập trung cụ thể theo các loại hình định hướng sau:
- Trung tâm định hướng công nghệ mới, có khả năng thu hút nguồn lực xã hội, có kết nối quốc tế thực chất, có hạ tầng kỹ thuật, đội ngũ nhân lực, năng lực quản trị đủ để hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp thương mại hóa thành công những công nghệ mới mà Thành phố có thể mạnh, hoặc công nghệ thuộc nhóm công nghệ chiến lược ưu tiên phát triển.
- Trung tâm Đổi mới sáng tạo định hướng khuyến công nghệ phù hợp với bối cảnh thực tế của thành phố.
- Trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo phù hợp với bổi cảnh của thành phố.
* Giai đoạn 2028 - 2029: Phát triển đạt ít nhất 03 Trung tâm đổi mới sáng tạo đạt tầm cỡ quốc tế, 03 trung tâm Đổi mới sáng tạo đạt tiêu chí cấp quốc gia; thêm mới ít nhất 04 trung tâm đổi mới sáng tạo/hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo cấp tỉnh.
* Đến năm 2030: hình thành mạng lưới các Trung tâm Đổi mới sáng tạo với sự phát triển đa dạng về loại hình tổ chức, cơ sở hạ tầng được đầu tư đầy đủ trong đó có ít nhất 03 Trung tâm đổi mới sáng tạo cấp quốc gia, tầm cỡ quốc tế; 07 trung tâm cấp tỉnh để đáp ứng nhu cầu hỗ trợ thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo của các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trên địa bàn thành phố, trở thành hạ tầng chiến lược trong hệ thống đổi mới sáng tạo của thành phố, hướng tới việc đưa Thành phố Hồ Chí Minh thành trung tâm đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp tầm cỡ quốc tế.
IV. KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN CÁC MÔ HÌNH TRUNG TÂM ĐỔI MỚI SÁNG TẠO TẦM CỠ QUỐC TẾ TẠI TP. HỒ CHÍ MINH
4.1. Xây dựng các tiêu chí lựa chọn thực thể tham gia mạng lưới
Ngoài các tiêu chí quy định trong Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo 2025 cùng các nghị định liên quan, tiêu chí lựa chọn cần chú ý khả năng tự chủ tài chính, giảm thiểu sự phụ thuộc vào ngân sách nhà nước sau giai đoạn đầu tư ban đầu. Điều này đặt ra yêu cầu đối với Trung tâm đổi mới sáng tạo tầm cỡ quốc tế đó là:
(1) Tiêu chí Cấp Quốc gia: Các Trung tâm Đổi mới sáng tạo phải đáp ứng tiêu chí theo quy định của Nghị định 268/2025/NĐ-CP để được công nhận là Trung tâm Đổi mới sáng tạo cấp quốc gia. Trong đó, Trung tâm phải có doanh thu trực tiếp từ kết quả tư vấn, hỗ trợ ứng dụng công nghệ, chuyển giao công nghệ, đổi mới công nghệ, sáng tạo công nghệ, nâng cao hiệu suất công nghệ đạt ít nhất 50 tỷ đồng Việt Nam mỗi năm. Đây là thước đo cơ bản về khả năng tạo ra dòng tiền dịch vụ và giá trị thương mại cho hệ sinh thái.
(2) Tiêu chí Tầm cỡ Quốc tế: Ngoài tiêu chí cấp quốc gia, Trung tâm Đổi mới sáng tạo tầm cỡ quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh phải đáp ứng các yêu cầu về quốc tế hóa, bao gồm:
- Có kết nối chính thức:
+ Tham gia hoặc là thành viên chính thức của các mạng lưới đổi mới sáng tạo khu vực và toàn cầu như:
o ASEAN Innovation Network, OECD[2] Innovation Forum, Global Startup Ecosystem Network, Switzerland Innovation Network, MaRS Global Partners Alliance…
+ Thực hiện chương trình trao đổi và hợp tác quốc tế thường niên, bao gồm:
o Chương trình “Innovation Landing Pad” cho startup toàn cầu vào Việt Nam.
o Chương trình “Outbound Acceleration” hỗ trợ startup Việt Nam mở rộng ra thị trường quốc tế.
o Các diễn đàn, hội thảo và triển lãm công nghệ quốc tế tổ chức định kỳ tại Trung tâm.
- Được công nhận bởi các tổ chức uy tín thế giới:
+ Đạt chứng nhận hoặc xếp hạng từ các tổ chức đánh giá quốc tế trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo, ví dụ:
o Global Innovation Index (WIPO - INSEAD),
o Global Startup Ecosystem Report (Startup Genome),
o OECD Innovation Policy Platform,
o ASEAN Innovation Awards.
+ Có quan hệ đối tác chính thức hoặc được công nhận là “node”/“hub” trong mạng lưới đổi mới sáng tạo quốc tế, tương tự như:
o Switzerland Innovation (Thụy Sĩ),
o Station F (Pháp),
o BLOCK71 (Singapore),
o Area 2071 (UAE).
+ Có thỏa thuận hợp tác hoặc công nhận lẫn nhau với các trung tâm quốc tế trong việc ươm tạo, cấp chứng chỉ công nghệ, chia sẻ cơ sở dữ liệu và tiêu chuẩn đổi mới sáng tạo.
- Áp dụng Tiêu chuẩn vận hành quốc tế: Trung tâm vận hành theo chuẩn mực quốc tế về quản trị, tài chính, sở hữu trí tuệ, đầu tư mạo hiểm và minh bạch thông tin:
o Áp dụng các quy trình quản trị doanh nghiệp và đổi mới mở (Open Innovation Governance).
o Thực hiện báo cáo tài chính và báo cáo tác động hàng năm theo tiêu chuẩn IFRS[3] và GRI[4].
o Tuân thủ cơ chế quản trị IP quốc tế, đảm bảo quyền sở hữu và khai thác tài sản trí tuệ minh bạch.
- Đánh giá Trung tâm đổi mới sáng tạo tầm cỡ cấp quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh cần dựa trên nhóm chỉ số đầu ra hằng năm (để đo lường hoạt động và năng lực vận hành của Trung tâm), cụ thể như sau:
|
Chỉ tiêu |
Đơn vị đo |
Mục tiêu giai đoạn 2026-2030 |
Ghi chú |
|
1. Diện tích không gian đổi mới sáng tạo được hình thành |
m2 |
≥ 10.000 m2 |
Thuộc quyền sở hữu, sử dụng của Trung tâm |
|
2. Số lượng startup được ươm tạo hoặc hỗ trợ tăng tốc mỗi năm |
Doanh nghiệp |
≥ 50 |
Do Trung tâm thực hiện, trong đó startup quốc tế chiếm tối thiểu 20% số lượng. |
|
3. Số doanh nghiệp, tập đoàn, viện, trường tham gia mạng lưới của Trung tâm ổn định hằng năm |
Đơn vị |
≥ 100 |
Bao gồm các đối tác quốc tế chiếm tối thiểu 20% |
|
4. Số dự án R&D và chuyển giao công nghệ triển khai tại trung tâm |
Dự án |
≥ 50/năm |
Có sự tham gia của khu vực tư nhân |
|
5. Giá trị thương mại hóa công nghệ doanh nghiệp Spin-off trên tổng nguồn thu của Trung tâm hằng năm |
% |
≥ 30 |
Do Trung tâm thực hiện |
|
6. Số chuyên gia, nhà nghiên cứu quốc tế làm việc thường trú hoặc theo chương trình trao đổi |
Người |
≥ 20 |
Do Trung tâm tuyển dụng hoặc có hợp tác, trao đổi theo các chương trình trao đổi. |
|
7. Số sự kiện, diễn đàn, hội thảo quốc tế tổ chức tại Trung tâm |
Sự kiện |
≥ 10/năm |
Gắn với mạng lưới mà Trung tâm là thành viên chính thức |
|
8. Tổng vốn đầu tư thu hút vào các dự án đổi mới sáng tạo hàng năm do Trung tâm chủ trì, hỗ trợ thực hiện |
Triệu USD |
≥ 10 |
Bao gồm FDI, quỹ mạo hiểm, PPP |
* Kết quả đánh giá của Đề án đến năm 2030 theo 2 nhóm chỉ số sau:
- Nhóm chỉ số kết quả trung hạn (Outcomes) (để Đo lường tác động đến năng lực đổi mới sáng tạo và kinh tế tri thức của Thành phố) như sau:
|
Chỉ tiêu |
Đơn vị đo |
Mục tiêu 2030 |
Ghi chú/Đối sánh quốc tế |
|
1. Tỷ trọng doanh nghiệp đổi mới sáng tạo trong tổng số DN TP.HCM |
% |
≥ 15% |
OECD innovation firm ratio |
|
2. Giá trị thương mại hóa công nghệ, sáng chế, sản phẩm KH&CN |
Tỷ đồng/năm |
≥ 3.000 |
Ước tính 0,1% GRDP TP.HCM |
|
3. Tỷ lệ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo nhận vốn đầu tư mạo hiểm |
% |
≥ 25% |
Tương đương Singapore early- stage rate |
|
4. Số bằng sáng chế quốc tế (PCT/WIPO) có nguồn gốc từ TP.HCM |
Số lượng |
≥ 200/năm |
Theo thống kê WIPO PCT filings |
|
5. Số lượng dự án hợp tác quốc tế song phương và đa phương về ĐMST |
Dự án |
≥ 50 |
Hợp tác với EU, OECD, ADB, JETRO… |
|
6. Tỷ lệ nhân lực KH&CN trong tổng lao động Thành phố |
% |
≥ 3,5% |
Tiệm cận chuẩn OECD đô thị sáng tạo |
|
7. Chỉ số “Innovation Readiness Index” cấp thành phố |
Điểm (100) |
≥ 75/100 |
Đo bởi cơ quan độc lập trong nước & quốc tế |
- Nhóm chỉ số tác động dài hạn (Impacts) để đo lường đóng góp vào năng lực cạnh tranh và thương hiệu quốc tế của TP.HCM:
|
Chỉ tiêu |
Đơn vị đo |
Mục tiêu 2030 |
Ghi chú/Đối sánh quốc tế |
|
1. Đóng góp của khu vực ĐMST vào GRDP TP.HCM |
% |
≥ 10% GRDP |
Tương đương Seoul, Zurich |
|
2. Vị trí của TP.HCM trong bảng xếp hạng Global Startup Ecosystem Report (Startup Genome) |
Thứ hạng |
Top 3 ASEAN / Top 100 toàn cầu |
2025: ngoài Top 100 toàn cầu (Startup Blink) |
|
3. Số doanh nghiệp ĐMST quốc tế đặt trụ sở hoặc chi nhánh tại TP.HCM |
Doanh nghiệp |
≥ 300 |
Bao gồm MNCs, tech startups |
|
4. Số chương trình/hạng mục quốc tế công nhận (OECD, WIPO, ASEAN) |
Lần |
≥ 5 |
Ví dụ: “Regional Innovation Hub”, “Smart City Sandbox”… |
|
5. Tỷ lệ tự chủ tài chính của Trung tâm |
% |
≥ 50% |
Nguồn thu từ dịch vụ, đầu tư, PPP |
|
6. Mức độ hài lòng và niềm tin của cộng đồng quốc tế và nhà đầu tư |
Điểm (100) |
≥ 80/100 |
Khảo sát định kỳ 2 năm/lần |
Trên cơ sở các tiêu chí và nhóm chỉ tiêu cho thấy các Trung tâm Đổi mới sáng tạo tầm cỡ quốc tế phải tối ưu hóa nguồn thu dựa trên lợi thế chiến lược của mình. Các Trung tâm cần xây dựng mô hình tài chính đa dạng, cân bằng giữa nguồn vốn công (ban đầu) và các nguồn thu bền vững từ thị trường, dịch vụ, và đầu tư mạo hiểm. Các mô hình này phải phù hợp với chiến lược phi tập trung của Thành phố, nơi các trụ cột (Deep-Tech, Ứng dụng, Điều phối và Đầu tư / PPP) đều cần có cơ chế tự chủ riêng biệt và bổ trợ lẫn nhau. Mô hình Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc tế Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh (M1) có năng lực tri thức mạnh mẽ, vì vậy nguồn thu phải tập trung vào việc thu thập giá trị từ IP (Equity) thông qua các dự án Deep-Tech R&D và Spin-off. Ngược lại, Mô hình Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc tế Khu Công nghệ cao (M2) có sẵn hạ tầng công nghiệp và kết nối với các doanh nghiệp FDI , nên nguồn thu phải đến từ việc tính phí sử dụng Hạ tầng thử nghiệm vật lý (Fees) và dịch vụ ứng dụng công nghệ cao. Mô hình Trung tâm Khởi nghiệp Sáng tạo SIHUB (M3) với vai trò điều phối và xúc tiến chính sách, sẽ tập trung vào Dịch vụ quy mô và Kết nối thị trường (Volume Services) để đạt chỉ tiêu doanh thu cấp quốc gia. Ngoài ra… Mô hình Doanh nghiệp đầu tư (M4) theo hình thức Hợp tác Công Tư (PPP) để huy động vốn ngoài ngân sách, cung cấp cơ sở vật chất chuyên biệt, và đảm bảo quản trị vận hành linh hoạt theo cơ chế thị trường. Mô hình PPP là công cụ then chốt để bổ sung nguồn vốn, phân tán rủi ro, và tận dụng trí tuệ quản trị từ khu vực tư nhân. Sự khác biệt này đảm bảo rằng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Thành phố Hồ Chí Minh là đa tầng, không cạnh tranh trực tiếp mà bổ trợ nhau về mặt tài chính và các nguồn lực trong mạng lưới.
(i) Chức năng - Nhiệm vụ
Trung tâm hoạt động theo mô hình Hệ sinh thái mở (Open Innovation Ecosystem).
Chức năng: Trung tâm tập trung vào các lĩnh vực công nghệ sâu ưu tiên (Deep-Tech): bán dẫn và vi điện tử, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn, công nghệ sinh học và y sinh, vật liệu tiên tiến, năng lượng và môi trường. Thực hiện nghiên cứu - phát triển (R&D), thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Hoạt động trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và các lĩnh vực khác theo quy định của pháp luật.
Nhiệm vụ: Kết nối viện - trường - doanh nghiệp; ươm tạo dự án khởi nghiệp sáng tạo và chuyển giao công nghệ; cung cấp dịch vụ phân tích và thử nghiệm sản phẩm; liên kết đào tạo nhân lực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo (ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS).
Vai trò: Là mô hình hạt nhân tri thức trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, tạo nguồn cung công nghệ và nhân lực, và đóng vai trò trụ cột tri thức trong mạng lưới đổi mới sáng tạo quốc tế của Thành phố. Là đầu mối kết nối và tham gia các mạng lưới trung tâm đổi mới sáng tạo quốc tế (Fraunhofer, ITRI, Catapult, v.v.) để đồng phát triển công nghệ và chương trình đào tạo.
(ii) Mô hình tổ chức
Pháp lý: Là đơn vị sự nghiệp công lập có thu, tự bảo đảm chi thường xuyên do Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHQG-HCM) thành lập. Trung tâm có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng.
Cơ cấu tổ chức: theo quyết định của Giám đốc đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
(iii) Quản lý vận hành
Quản lý: Ban Giám đốc Trung tâm do Giám đốc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh bổ nhiệm.
Trách nhiệm: Trung tâm chịu trách nhiệm trước Giám đốc Đại học Quốc gia và Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về toàn bộ hoạt động.
Cơ chế Hợp tác: Góp phần triển khai thử nghiệm mô hình hợp tác công - công (PP) và hợp tác công - tư (PPP).
Mô hình hoạt động: Hoạt động theo mô hình Hệ sinh thái mở (Open Innovation Ecosystem) - nơi hội tụ, chia sẻ và liên kết giữa ĐHQG-HCM, các trường đại học, Sở ngành Thành phố Hồ Chí Minh, doanh nghiệp, nhà đầu tư, tổ chức quốc tế và cộng đồng khởi nghiệp sáng tạo. Trung tâm cung cấp hạ tầng phòng thí nghiệm dùng chung, các nhóm nghiên cứu mạnh, hỗ trợ nguồn nhân lực cho các thành viên trong mạng lưới và chuỗi liên kết; các đơn vị thành viên góp vốn bằng tài sản, công nghệ và nhân lực.
Mô hình liên minh quản trị phối hợp 3 nhà giữa Nhà nước - Viện/Trường - Doanh nghiệp, mở rộng thành “4 nhà”.
(iv) Chủ thể vai trò cơ chế phối hợp
Nhà nước (Bộ Khoa học và Công nghệ, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh,...) Ban hành chính sách, hỗ trợ tài chính, tạo hành lang pháp lý thuận lợi đồng tài trợ các dự án nghiên cứu - ứng dụng; đặt hàng sản phẩm đổi mới sáng tạo phục vụ phát triển Thành phố.
Nhà trường - Viện nghiên cứu: Nghiên cứu, đào tạo, phát triển công nghệ, cung cấp nhân lực chất lượng cao Phối hợp triển khai các phòng thí nghiệm, chương trình đào tạo và chuyển giao công nghệ.
Doanh nghiệp (FDI, SME, startup, quỹ đầu tư): Ứng dụng công nghệ, đồng đầu tư, thương mại hóa sản phẩm; tham gia ươm tạo, chia sẻ dữ liệu, đặt hàng công nghệ và đào tạo nhân lực theo nhu cầu.
Xã hội - Cộng đồng (Tổ chức quốc tế, chuyên gia, nhà đầu tư, người dân): Đồng sáng tạo, hỗ trợ lan tỏa và sử dụng sản phẩm công nghệ; tham gia mạng lưới đổi mới sáng tạo mở, chương trình truyền thông và chia sẻ tri thức.
Trung tâm được phát triển như “hạt nhân kết nối” hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Thành phố Hồ Chí Minh và vùng Đông Nam Bộ, với hạ tầng hiện đại, không gian mở, liên kết doanh nghiệp - viện trường - nhà quản lý - nhà đầu tư. Không gian được quy hoạch thành 05 khu chức năng chính, cụ thể như sau:
(1) Khu hành chính và điều hành trung tâm: Văn phòng điều hành, phòng họp chiến lược, trung tâm điều phối và dữ liệu.
(2) Khu nghiên cứu - thử nghiệm công nghệ (TechLab Complex):
- Các phòng thí nghiệm chuyên sâu: AI - bán dẫn - vật liệu - năng lượng - sinh học.
- Không gian “prototype” cho sản phẩm mẫu, thử nghiệm công nghiệp.
(3) Khu ươm tạo và khởi nghiệp (Innovation & Start-up Village): Không gian làm việc chung, khu trình diễn sản phẩm, trung tâm hỗ trợ SHTT và vốn đầu tư.
(4) Khu đào tạo và hợp tác quốc tế (Innovation Academy & Global Hub): Phòng học, hội thảo, khu thực hành sáng tạo; kết nối học viên quốc tế và doanh nghiệp.
(5) Khu trưng bày và công viên công nghệ (TechShow & Innovation Park): Nơi trình diễn công nghệ, triển lãm, tổ chức sự kiện đổi mới sáng tạo định kỳ.
Song song với không gian vật lý, Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc tế Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh xây dựng hệ sinh thái số thống nhất để hỗ trợ quản trị, kết nối và chia sẻ tri thức, bao gồm:
- Hệ thống quản trị số toàn diện (Innovation Management Platform): Quản lý dự án, dữ liệu, tài chính, tài sản trí tuệ và nhân lực.
- Cổng thông tin đổi mới sáng tạo Thành phố Hồ Chí Minh (HCM Innovation Portal): Kết nối startup, viện - trường, doanh nghiệp, cơ quan quản lý và nhà đầu tư.
- Cơ sở dữ liệu khoa học và công nghệ mở (Open Science Database): Liên thông với CSDL quốc gia và quốc tế (Scopus, Web of Science, NIC Data Hub).
- Hệ thống giám sát kết quả và tác động xã hội (Impact Dashboard): Đánh giá định kỳ về hiệu quả đầu tư, số lượng startup, bằng sáng chế, sản phẩm thương mại hóa,…
(v) Nguồn vốn, Tài sản & Cơ chế tài chính
- Nguồn vốn: Gồm ngân sách nhà nước cấp một phần, nguồn tài chính xã hội hóa, quỹ tài trợ nghiên cứu của doanh nghiệp, và các nguồn thu hợp pháp khác của Trung tâm.
- Nguồn thu Hoạt động và Dịch vụ: Trung tâm Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh tập trung vào vai trò hạt nhân tri thức, với các nguồn thu chủ yếu từ hoạt động chuyên môn hóa cao:
(1) Nguồn thu chính:
- Khai thác không gian làm việc và hạ tầng kỹ thuật.
- Thương mại hóa kết quả nghiên cứu: Thu từ việc chuyển giao và thương mại hóa các kết quả nghiên cứu và phát triển (R&D).
- Thương mại hóa Tài sản Trí tuệ (IPR): Lợi nhuận từ Thoái vốn (Capital Gains); Phí Bản quyền và Cấp phép Công nghệ (Licensing & Royalty Fees)
- Doanh nghiệp Spin-off: Thu từ các doanh nghiệp khoa học công nghệ và startup được hình thành từ kết quả nghiên cứu của Trung tâm.
- Quỹ Tài trợ và Ngân sách: Thu từ quỹ tài trợ nghiên cứu của doanh nghiệp và ngân sách nhà nước cấp một phần.
- Nguồn thu hợp pháp khác của Trung tâm.
(2) Dịch vụ:
- Cung cấp các Phòng Thí nghiệm Mở (Open Lab), khu thử nghiệm công nghệ (Testbed), trung tâm dữ liệu hoặc AI cloud.
- Cung cấp dịch vụ phân tích và thử nghiệm sản phẩm.
- Liên kết đào tạo chuyên sâu, cung cấp nguồn nhân lực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo (đổi mới sáng tạo) và chuyển đổi số (CĐS) chất lượng cao.
- Cung cấp các hoạt động Ươm tạo và Tăng tốc dự án khởi nghiệp sáng tạo (khởi nghiệp sáng tạo).
- Chuyển giao công nghệ.
- Mục tiêu đóng góp: Tỷ lệ doanh thu hoặc giá trị thương mại hóa công nghệ/doanh nghiệp Spin-off chiếm tối thiểu 30% tổng nguồn thu của Trung tâm (Tiêu chí tầm cỡ quốc tế).
(vi) Chính sách ưu đãi
- Thực hiện thí điểm Mô hình đối tác công - công (PP) giữa Ủy ban nhân dân Thành phố và ĐHQG-HCM.
- Thành phố cung cấp cơ chế tài trợ đầu tư đổi mới sáng tạo về cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật phục vụ dùng chung cho Trung tâm.
- Trung tâm được áp dụng cơ chế lương, thưởng cạnh tranh với khu vực tư nhân, không phụ thuộc vào thang bảng lương công chức/viên chức, để thu hút đội ngũ quản lý và chuyên gia quốc tế chất lượng cao (theo Nghị quyết 98/2023/QH15).
- Được ưu tiên bố trí vốn đầu tư công trung hạn 2026-2030 cho hạ tầng.
(vii) Kết quả và Tác động
- Mục tiêu: Góp phần triển khai thí điểm mô hình “Ba Nhà” (Nhà nước - Viện/Trường - Doanh nghiệp), hướng tới mục tiêu Top 100 châu Á. Tỷ lệ doanh thu hoặc giá trị thương mại hóa công nghệ/doanh nghiệp Spin-off chiếm tối thiểu 30% tổng nguồn thu của Trung tâm. Thu hút tối thiểu 50 triệu USD kinh phí đầu tư cho hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo. Tạo ra 50 doanh nghiệp spin-off, doanh nghiệp khởi nghiệp. Có 10 startup được hỗ trợ thành công và được định giá 200 triệu USD mỗi năm.
- Tác động: Hình thành trung tâm nghiên cứu, chuyển giao và thương mại hóa kết quả khoa học công nghệ, đóng vai trò trụ cột tri thức trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Thành phố.
4.3. Xây dựng Mô hình Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc tế Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh
Mô hình này giúp khắc phục điểm yếu của các trung tâm thuần học thuật bằng cách đưa sản phẩm nghiên cứu vào môi trường sản xuất công nghiệp và chuỗi cung ứng thực tế.
(i) Chức năng - Nhiệm vụ
Chức năng: Tổ chức và triển khai các hoạt động về ươm tạo đổi mới sáng tạo nghiên cứu phát triển, ứng dụng, thương mại hóa, chuyển giao công nghệ cao; kêu gọi vốn đầu tư, cung cấp dịch vụ khoa học công nghệ; hỗ trợ đổi mới sáng tạo, ươm tạo, đào tạo, hội nghị, hội thảo, tọa đàm trong lĩnh vực công nghệ cao nhằm phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tại Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh và các chức năng khác theo quy định pháp luật; tham gia xây dựng, đề xuất các chính sách và các chương trình khuyến khích đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ cao tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh và vùng Đông Nam Bộ; triển khai các hoạt động hợp tác thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ cao với đối tác trong nước và quốc tế.
Nhiệm vụ: Liên kết R&D, ứng dụng công nghệ cao; ươm tạo công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ cao; đào tạo nhân lực công nghệ cao; xúc tiến đầu tư công nghệ cao; tổ chức sandbox thử nghiệm công nghệ cao; hỗ trợ chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương.
Vai trò: Là nơi lý tưởng để thực hiện Mục tiêu thông qua việc Phát triển, thử nghiệm, trình diễn công nghệ cao. Tập trung sâu vào giai đoạn “ươm tạo” và “thương mại hóa”.
(ii) Mô hình tổ chức
Pháp lý: Là đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ, trực thuộc Ban Quản lý Khu Công nghệ cao.
Cơ cấu tổ chức: Ban giám đốc Trung tâm, các đơn vị, phòng chức năng (theo quyết định của Trưởng ban Quản lý Khu Công nghệ cao).
(iii) Quản lý vận hành
Cơ sở hình thành: Được đầu tư nâng cấp từ Vườn ươm doanh nghiệp công nghệ cao và các Trung tâm nghiên cứu trực thuộc Ban Quản lý Khu Công nghệ cao, nhằm đảm bảo đáp ứng tiêu chí Trung tâm Đổi mới sáng tạo cấp quốc gia và quốc tế.
Định hướng vận hành: Tập trung kết nối chặt chẽ giữa nghiên cứu - thử nghiệm - sản xuất - thương mại hóa.
Trọng tâm hoạt động: Phát triển, thử nghiệm, trình diễn công nghệ cao.
Cơ chế Thử nghiệm: Tổ chức sandbox thử nghiệm công nghệ cao.
(iv) Nguồn vốn, Tài sản & Cơ chế tài chính
Nguồn vốn: Từ ngân sách nhà nước, nguồn thu dịch vụ, và các nguồn thu hợp pháp khác của Trung tâm.
Tài sản: Được đầu tư nâng cấp từ Vườn ươm doanh nghiệp công nghệ cao và các Trung tâm nghiên cứu trực thuộc Ban Quản lý Khu Công nghệ cao. Được Thành phố bố trí kinh phí đầu tư nâng cấp từ ngân sách (theo Nghị quyết 98/2023/NQ-QH15).
Nguồn thu Hoạt động và Dịch vụ: Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc tế Khu Công nghệ cao tập trung vào đổi mới sáng tạo ứng dụng công nghệ cao và các hoạt động công nghiệp:
(1) Nguồn thu chính:
- Khai thác không gian làm việc và hạ tầng kỹ thuật.
- Nguồn thu từ Thương mại hóa Tài sản Trí tuệ (IPR) và Doanh nghiệp Spin-off.
- Thu từ ngân sách nhà nước (đầu tư nâng cấp).
- Thu từ hoạt động dịch vụ sự nghiệp công.
- Thu từ hoạt động hoạt động liên doanh, liên kết với các tổ chức, cá nhân theo đúng quy định của pháp luật và được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt đề án phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của đơn vị.
- Thu từ hoạt động liên kết sử dụng tài sản công theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công và đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
- Thu từ các hoạt động sự nghiệp khác.
- Thu từ các nguồn tài trợ trong và ngoài nước theo quy định.
- Nguồn thu khác theo quy định của pháp luật.
(2) Dịch vụ:
Dịch vụ công sử dụng ngân sách nhà nước
- Kết nối các chuyên gia trong và ngoài nước, tư vấn, cung cấp các dịch vụ cho hoạt động đổi mới sáng tạo.
- Hỗ trợ pháp lý, tài chính, sở hữu trí tuệ, khai thác và phát triển tài sản trí tuệ, thông tin công nghệ, tiêu chuẩn công nghệ, tiêu chuẩn đo lường chất lượng, tiêu chuẩn ISO.
- Hỗ trợ thực hiện các thủ tục đăng ký doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp công nghệ cao.
- Kết nối thực hiện dịch vụ thử nghiệm, hoàn thiện sản phẩm mẫu.
- Dịch vụ tư vấn xây dựng, áp dụng tiêu chuẩn cơ sở và hệ thống quản lý.
- Triển khai các hoạt động kết nối thương mại hóa sản phẩm thuộc lĩnh vực công nghệ cao và chuyển giao công nghệ các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước; các hoạt động tư vấn chuyển giao, thương mại hóa công nghệ cao và sản phẩm công nghệ cao.
- Tổ chức các hoạt động kết nối thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
- Cung cấp không gian chung phục vụ hoạt động đổi mới sáng tạo và hợp tác hỗ trợ phát triển dự án sáng tạo.
- Triển khai và vận hành chương trình ươm tạo và tăng tốc giúp các dụ án công nghệ cao ở nhiều giai đoạn phát triển khác nhau đạt được các mục tiêu kinh doanh của mình; từ đó giúp Trung tâm Đổi mới sáng tạo Khu Công nghệ cao tạo ra một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hoàn chỉnh.
Dịch vụ không sử dụng ngân sách nhà nước
- Dịch vụ tư vấn, huấn luyện thực hành về công nghệ cao.
- Tổ chức các sự kiện hội chợ, triển lãm, trình diễn công nghệ cao, trình diễn sản phẩm công nghệ cao từ kết quả nghiên cứu, ứng dụng công nghệ cao, chuyển giao công nghệ cao.
- Thực hiện về trình diễn, trưng bày sản phẩm mẫu cho doanh nghiệp công nghệ cao.
- Tổ chức hội nghị, hội thảo, tọa đàm.
- Dịch vụ hỗ trợ sản xuất thử nghiệm, hoàn thiện sản phẩm mẫu cho doanh nghiệp ươm tạo, đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ cao.
- Thực hiện các hoạt động thương mại hóa sản phẩm khởi nghiệp thuộc lĩnh vực công nghệ cao và chuyển giao công nghệ các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước; các tư vấn chuyển giao, thương mại hóa công nghệ cao và sản phẩm công nghệ cao.
- Kết nối và triển khai dịch vụ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận các nguồn lực trong các lĩnh vực: tài chính, đầu tư, khoa học công nghệ, đào tạo, tư vấn, thông tin, thị trường, không gian làm việc và các dịch vụ tích hợp khác cần thiết cho hoạt động đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp; xây dựng và triển khai các chương trình hỗ trợ chuyên đề trong các ngành công nghệ ưu tiên.
- Dịch vụ tư vấn, huấn luyện về đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp và phát triển doanh nghiệp; tổ chức các sự kiện quảng bá sản phẩm, giải pháp đổi mới sáng tạo khởi nghiệp.
- Dịch vụ tư vấn đăng ký sở hữu trí tuệ, đăng ký doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp công nghệ cao; tư vấn hoàn thiện sản phẩm công nghệ, sản xuất thử nghiệm, sản xuất theo nhu cầu thị trường.
- Triển khai các chương trình ươm tạo, chương trình tăng tốc, chương trình thúc đẩy phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, các sự kiện, huấn luyện, tư vấn về khoa học - kỹ thuật, kinh doanh, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo theo đơn đặt hàng từ các tổ chức/doanh nghiệp trong và ngoài nước phù hợp với chủ trương, chính sách, quy định của Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh.
- Dịch vụ hỗ trợ về không gian làm, dịch vụ hỗ trợ trực tuyến việc theo quy định.
- Tổ chức chương trình trải nghiệm thực nghiệm về khoa học và công nghệ tại khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh.
- Tổ chức các sàn giao dịch công nghệ tạo sự liên kết, tìm kiếm cơ hội tài trợ và đầu tư cho các sản phẩm công nghệ cao trong và ngoài khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh.
(v) Chính sách ưu đãi
Áp dụng các chính sách ưu đãi cho dự án công nghệ cao.
Tận dụng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ hoạt động nghiên cứu phát triển và cho hoạt động nghiên cứu phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Áp dụng cơ chế Sandbox (thử nghiệm có kiểm soát) cho công nghệ mới.
(vi) Kết quả và Tác động
Mục tiêu: Trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo tầm cỡ khu vực trong thời kỳ mới. Đánh giá công nhận đạt tiêu chí Trung tâm Đổi mới sáng tạo cấp quốc gia trong giai đoạn 2027 - 2028, hoàn thành các tiêu chí Trung tâm Đổi mới sáng tạo tầm cỡ quốc tế năm 2030.
Tác động: Thúc đẩy R&D ứng dụng, chuyển giao công nghệ, thử nghiệm sandbox. Góp phần hình thành hệ sinh thái công nghệ cao mang tầm khu vực.
4.4. Xây dựng Mô hình Trung tâm Khởi nghiệp Sáng tạo Thành phố Hồ Chí Minh (SIHUB)
Mô hình này tập trung vào vai trò tư vấn chính sách và thúc đẩy đổi mới sáng tạo khu vực công.
(i) Chức năng - Nhiệm vụ
Chức năng: Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, ứng dụng và chuyển giao công nghệ. Thúc đẩy, hỗ trợ nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo và phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, phục vụ hai chức năng: chức năng xã hội (hỗ trợ cộng đồng) và chức năng thương mại (tạo dòng tiền).
Nhiệm vụ: Tập hợp và kết nối các nguồn lực trong hệ sinh thái; phổ biến các chính sách hỗ trợ của Nhà nước về đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp sáng tạo; đầu mối hợp tác trong và ngoài nước về đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp sáng tạo; thúc đẩy đổi mới sáng tạo khu vực công.
Triển khai Sandbox vận hành Sàn giao dịch công nghệ của Thành phố.
(ii) Mô hình tổ chức
Pháp lý: Là đơn vị sự nghiệp công lập (loại 3), trực thuộc Sở Khoa học và Công nghệ. Có tư cách pháp nhân và con dấu.
Cơ cấu tổ chức: Ban Giám đốc, các phòng chức năng.
Trụ sở: Trụ sở chính tại số 123 Trương Định với tổng diện tích sàn 17.000 m2.
(iii) Quản lý vận hành
Vai trò điều phối: Là mô hình Trung tâm điều phối hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, đổi mới sáng tạo của Thành phố. Định vị và tập trung vào các lĩnh vực mà TP HCM có thế mạnh, xác định ưu tiên.
Đầu mối Chính sách: Đóng vai trò đầu mối chính sách, nhằm đảm bảo các cơ chế đặc thù của Nghị quyết 98/2023/QH15 được triển khai nhanh chóng và hiệu quả.
Mô hình không gian tiên phong: Vận hành theo mô hình hợp tác công tư tiên phong tại trụ sở chính 123 Trương Định và các địa điểm trực thuộc khác của Trung tâm, Trong đó trụ sở chính tập trung vào:
+ Không gian chung (Tầng 1-3): Do Nhà nước bảo trợ, tập trung vào lan tỏa chính sách, ươm mầm tài năng, và tổ chức sự kiện.
+ Không gian hội tụ nguồn lực (Tầng 4-7): Thu hút các quỹ đầu tư, tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp công nghệ trong và ngoài nước để trực tiếp đầu tư và ươm tạo startup. Tổ chức theo mô hình “one stop service”, ở đó tập hợp hệ sinh thái service provider cho startup.
+ Không gian mở (Tầng 8): Tổ chức các hoạt động giao lưu, kết nối các thành phần hệ sinh thái.
(iv) Nguồn vốn, Tài sản & Cơ chế tài chính
Nguồn vốn: Từ ngân sách nhà nước, nguồn thu dịch vụ, và các nguồn thu hợp pháp khác của Trung tâm.
Cơ chế tài chính: Là đơn vị sự nghiệp công lập được phép giữ lại và sử dụng toàn bộ nguồn thu từ hoạt động dịch vụ, liên doanh, liên kết, và cho thuê không gian để tái đầu tư vào hoạt động ươm tạo và nghiên cứu.
Nguồn thu Hoạt động và Dịch vụ: SIHUB có cơ chế tự chủ tài chính linh hoạt để tái đầu tư:
(1) Nguồn thu chính (Đặc thù):
Nguồn thu từ hoạt động dịch vụ, liên doanh, liên kết.
Nguồn thu từ cho thuê không gian làm việc (tại các tầng hội tụ nguồn lực).
Ngân sách nhà nước (cấp một phần) và các nguồn thu hợp pháp khác của Trung tâm.
Cơ chế Tài chính: Trung tâm (là đơn vị sự nghiệp công lập) được phép giữ lại và sử dụng toàn bộ nguồn thu từ hoạt động dịch vụ, liên doanh, liên kết, và cho thuê không gian để tái đầu tư vào hoạt động ươm tạo và nghiên cứu.
(2) Dịch vụ:
Triển khai các nhiệm vụ về hỗ trợ các hoạt động đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp sáng tạo (khởi nghiệp sáng tạo).
Cung cấp các dịch vụ hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo.
Chương trình Ươm tạo và Tăng tốc (Incubation & Acceleration): Hiệu suất (Performance-based) kết hợp Cổ phần (Equity) hoặc thỏa thuận chia sẻ doanh thu (Revenue share) từ startup khi IPO hoặc M&A.
Tư vấn Sở hữu Trí tuệ (IP Consulting).
Dịch vụ quản lý, giám sát và tư vấn tuân thủ pháp lý (Regulatory Compliance) cho các dự án thí điểm Sandbox (Fintech, AI, UAV…).
Phối hợp triển khai các chương trình đào tạo chuyên sâu.
Dịch vụ khoa học và phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ và chuyển giao công nghệ.
Tổ chức triển khai các hoạt động thúc đẩy và hỗ trợ hệ sinh thái (như tổ chức sự kiện, phổ biến chính sách).
(v) Chính sách ưu đãi
Được đầu tư mở rộng, nâng cấp để đảm bảo đáp ứng tiêu chí Trung tâm Đổi mới sáng tạo cấp quốc gia và quốc tế.
Có thể được nghiên cứu bố trí thêm địa điểm trụ sở để mở rộng tại khu vực Bình Dương và Bà Rịa Vũng Tàu (cũ).
Áp dụng cơ chế lương, thưởng cạnh tranh (theo NQ 98/2023/QH15 và Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo 2025) để thu hút chuyên gia/quản lý chất lượng cao.
Cơ chế huy động nguồn lực quốc tế và trong nước để hỗ trợ thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp sáng tạo do Trung tâm tổ chức và triển khai thực hiện.
(vi) Kết quả và Tác động
Mục tiêu: Đạt tiêu chí Trung tâm Đổi mới sáng tạo cấp quốc gia trong giai đoạn 2027 - 2028, hoàn thành các tiêu chí Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc tế năm 2030.
Tác động: Tăng cường vị thế của Thành phố trong mạng lưới đổi mới sáng tạo toàn cầu, đóng vai trò đầu mối chính sách, thúc đẩy hợp tác quốc tế, hỗ trợ phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo.
4.5. Xây dựng Mô hình Doanh Nghiệp Đầu Tư (Doanh Nghiệp / PPP)
Đây là mô hình mở và linh hoạt nhất, huy động hiệu quả nguồn lực xã hội, đầu tư tư nhân, quỹ đầu tư mạo hiểm và các tập đoàn công nghệ.
(i) Chức năng - Nhiệm vụ
Chức năng: Hỗ trợ đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo. Nghiên cứu phát triển giải pháp, công nghệ, mô hình kinh doanh mới. Thương mại hóa các nghiên cứu, giải pháp, sáng chế.
Nhiệm vụ: Cung cấp không gian làm việc, cố vấn, hạ tầng kỹ thuật; thực hiện hoạt động ươm tạo dự án khởi nghiệp sáng tạo; kết nối thị trường, nhà đầu tư; triển khai thử nghiệm giải pháp/ứng dụng công nghệ mới (sandbox).
Vai trò: Tạo sức bật thị trường, thúc đẩy thương mại hóa và hội nhập toàn cầu.
(ii) Mô hình tổ chức
Pháp lý: Là loại hình Doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp (Luật số 59/2020/QH14 và các văn bản sửa đổi, bổ sung liên quan). Có tư cách pháp nhân và con dấu.
Mô hình: Hoạt động theo mô hình doanh nghiệp và hình thức đối tác hợp tác công - tư (PPP).
Cơ cấu tổ chức: Theo quy định tại Điều lệ Công ty.
(iii) Quản lý vận hành
Quản lý: Do các thành viên sáng lập quyết định và điều hành hoạt động.
Mô hình: Mô hình đối tác công - tư (PPP).
Định hướng: Có sự định hướng, bảo trợ chính sách của Nhà nước và Thành phố.
Trách nhiệm: Thực hiện đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất, hạ tầng để đáp ứng tiêu chí công nhận là “Trung tâm đổi mới sáng tạo cấp quốc gia” và tầm cỡ quốc tế.
Linh hoạt: Mô hình này bảo đảm tính năng động, cạnh tranh và hội nhập quốc tế cao.
(iv) Nguồn vốn, Tài sản & Cơ chế tài chính
Nguồn vốn: Vốn của các chủ sở hữu là thành viên sáng lập doanh nghiệp, vốn quỹ đầu tư.
Cơ chế tài chính: Có thể nhận các khoản tài trợ, hỗ trợ từ ngân sách nhà nước. Khuyến khích đầu tư, tài trợ cho nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Việc khuyến khích mô hình này phù hợp với xu hướng toàn cầu hóa R&D và mô hình PPP trong đổi mới sáng tạo, góp phần giảm gánh nặng ngân sách.
Nguồn thu Hoạt động và Dịch vụ
Doanh nghiệp đầu tư có nguồn thu đa dạng, kết hợp giữa hoạt động kinh doanh và hỗ trợ từ nhà nước:
(1) Nguồn thu chính:
- Vốn của các chủ sở hữu là thành viên sáng lập doanh nghiệp, vốn quỹ đầu tư.
- Thu từ các hoạt động kinh doanh dịch vụ hỗ trợ đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp sáng tạo.
- Thu từ thương mại hóa các nghiên cứu, giải pháp, sáng chế.
- Các khoản tài trợ, hỗ trợ từ ngân sách nhà nước.
(2) Dịch vụ:
- Cung cấp không gian làm việc (Co-working space), cố vấn, hạ tầng kỹ thuật.
- Thực hiện hoạt động Ươm tạo - Tăng tốc dự án khởi nghiệp sáng tạo (khởi nghiệp sáng tạo).
- Kết nối thị trường, nhà đầu tư (thu phí dịch vụ tư vấn, môi giới).
- Triển khai thử nghiệm giải pháp/ứng dụng công nghệ mới (Sandbox).
- Nghiên cứu phát triển giải pháp, công nghệ, mô hình kinh doanh mới.
- Khuyến công nghệ - TES: Đổi mới sản phẩm: thiết kế, thương hiệu, tiêu chuẩn quốc tế…; Đổi mới quy trình: sản xuất tinh gọn, tự động hóa, CĐS…; Đổi mới mô hình kinh doanh: thương mại điện tử, kinh tế tuần hoàn, dịch vụ…; Đổi mới tổ chức & quản trị: quản trị TSTT, ESG, năng lực số…
- Kết nối đầu tư mạo hiểm, kết nối cộng đồng doanh nghiệp đổi mới sáng tạo & khởi nghiệp sáng tạo trong nước và quốc tế.
(v) Chính sách ưu đãi
- Thí điểm Mô hình đối tác công - tư (PPP).
- Cơ chế khuyến khích, tạo điều kiện cho phép nhà đầu tư tư nhân được hưởng các ưu đãi về đất đai, hạ tầng kỹ thuật khi đầu tư xây dựng và vận hành Trung tâm theo hình thức PPP.
- Có thể được hưởng các chính sách ưu đãi về thuế, tài chính, đấu thầu, tín dụng áp dụng cho các doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo.
- Được áp dụng cơ chế hợp tác công tư PPP minh bạch để thu hút phát triển Trung tâm.
(vi) Kết quả và Tác động
Mục tiêu: Huy động hiệu quả nguồn lực xã hội, đầu tư tư nhân, quỹ đầu tư mạo hiểm và các tập đoàn công nghệ lớn.
Tác động: Đảm bảo tốc độ triển khai nhanh và khả năng thu hút vốn từ các quỹ đầu tư mạo hiểm quốc tế một cách hiệu quả. Mô hình này bảo đảm tính năng động, cạnh tranh và hội nhập quốc tế cao.
Chiến lược liên kết mạng lưới hệ sinh thái Đổi mới Sáng tạo (ĐMST) của Thành phố Hồ Chí Minh được xây dựng dựa trên định hướng phát triển đa tầng, đa chủ thể nhằm tạo ra sự cộng hưởng giữa bốn mô hình trung tâm, đồng thời thiết lập cầu nối vững chắc với mạng lưới đổi mới sáng tạo khu vực và quốc tế.
(i) Liên kết Thể chế (Institutional Linkage)
Cơ chế đặc thù của Nghị quyết 98/2023/QH15 là công cụ thể chế hỗ trợ triển khai chính sách đổi mới sáng tạo của Thành phố Hồ Chí Minh, giúp kết nối khu vực công với khu vực tư nhân:
- Cơ chế Thử nghiệm Có kiểm soát (Sandbox): Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành danh mục các lĩnh vực được thí điểm Sandbox (Fintech, AI/Big Data, UAV, v.v..) tại các Trung tâm Đổi mới sáng tạo tầm cỡ quốc tế. Điều này cho phép doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo được thử nghiệm công nghệ mới trong khuôn khổ có kiểm soát, tạo liên kết giữa cơ quan quản lý (chính sách) và khu vực R&D.
- Chính sách Khách hàng Đầu tiên (First Customer): Hội đồng nhân dân Thành phố ban hành cơ chế cho phép các cơ quan hành chính công của Thành phố trở thành Khách hàng Đầu tiên sử dụng các sản phẩm đổi mới sáng tạo được thí điểm thành công tại Trung tâm. Chính sách này tạo ra thị trường đầu ra sớm, hỗ trợ tài chính gián tiếp cho startup, và thúc đẩy đổi mới sáng tạo khu vực công.
- Đối tác Công - Công (PP): Thí điểm mô hình hợp tác giữa Ủy ban nhân dân Thành phố và Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh để tài trợ đầu tư đổi mới sáng tạo về cơ sở vật chất và hạ tầng kỹ thuật dùng chung, tạo hành lang pháp lý linh hoạt cho nghiên cứu và phát triển.
- Đối tác Công - Tư (PPP): Mô hình nhà nước - doanh nghiệp (PPP) được xem là giải pháp tài chính tối ưu để đảm bảo tốc độ triển khai hạ tầng, trang thiết bị nhanh chóng, đáp ứng yêu cầu để đáp ứng vận hành tối thiểu và tiêu chuẩn quốc tế.
(ii) Quốc tế hóa Mạng lưới (Int. Linkage)
Thành phố Hồ Chí Minh định vị các trung tâm này là đầu mối quốc tế hóa hệ sinh thái, tập trung vào ba giải pháp chiến lược :
(1) Thiết lập Mạng lưới Hợp tác Chiến lược
- Mục tiêu: Mỗi Trung tâm tầm cỡ quốc tế phải có kết nối chính thức (MOU) với ít nhất 05 trung tâm đổi mới sáng tạo ngoài nước, tổ chức quốc tế hoặc mạng lưới đổi mới sáng tạo khu vực (ASEAN, ASIA, APEC, OECD…).
- Đối tác mục tiêu: Thiết lập mạng lưới hợp tác với các trung tâm quốc tế hàng đầu như MaRS (Canada), Station F (Pháp), Block71 (Singapore), Area 2071 (UAE)...
(2) Thúc đẩy Trao đổi Thị trường và Vốn Đầu tư
- Chương trình "Innovation Landing Pad": Tổ chức chương trình “Ho Chi Minh city Innovation Landing Pad” tại các Trung tâm Đổi mới sáng tạo tầm cỡ quốc tế để hỗ trợ startup quốc tế vào Việt Nam, thúc đẩy giao lưu hợp tác quốc tế và trao đổi công nghệ mới.
- Sự kiện Quốc tế: Tổ chức ít nhất 04 sự kiện quốc tế/năm về hoạt động đổi mới sáng tạo để xúc tiến công nghệ và đầu tư quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Thu hút Vốn Quốc tế: Hỗ trợ kết nối thu hút ít nhất 5 triệu USD đầu tư quốc tế/năm cho các cá nhân, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.
(3) Thu hút Nhân tài
- Startup Visa: Thí điểm hình thức Thị thực Khởi nghiệp sáng tạo (Startup Visa) linh hoạt (thời hạn cư trú lên đến 5 năm) cho: nhà sáng lập (founder) và chuyên gia công nghệ, chuyên gia tư vấn quốc tế (cùng thân nhân: vợ/chồng, con) vào làm việc tại Trung tâm.
- Chuyên gia Quốc tế: Trung tâm phải có đội ngũ chuyên gia trong và ngoài nước, trong đó ít nhất 20% chuyên gia quốc tế hoặc có kinh nghiệm làm việc tại trung tâm đổi mới sáng tạo quốc tế.
(iii) Liên kết và Cộng hưởng (Synergy)
Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Thành phố Hồ Chí Minh được thiết kế để bốn mô hình trung tâm không cạnh tranh trực tiếp mà bổ trợ lẫn nhau, tạo thành một chuỗi giá trị từ nghiên cứu đến thương mại hóa toàn cầu (Open Innovation).
Mô hình Trụ cột chức năng cốt lõi liên kết trong Hệ sinh thái:
Trung tâm Đổi mới sáng tạo Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh (Deep-Tech Complex) Nghiên cứu phát triển (R&D), Sáng tạo Tài sản Trí tuệ (IP) Trụ cột Tri thức: Tạo nguồn cung công nghệ và nhân lực chất lượng cao, trực tiếp giải quyết khoảng cách giữa nghiên cứu và thị trường.
Trung tâm Đổi mới sáng tạo Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh (High-Tech Application) Phát triển, thử nghiệm, trình diễn công nghệ cao, Sandbox công nghệ Cầu nối Ứng dụng: Đưa sản phẩm nghiên cứu (Viện- Trường) vào môi trường sản xuất công nghiệp và chuỗi cung ứng thực tế; tập trung sâu vào giai đoạn “Ươm tạo” và “Thương mại hóa”.
Trung tâm Khởi nghiệp Sáng tạo SIHUB (Coordination & Policy Advisor) Điều phối chính sách, xúc tiến hợp tác quốc tế, lan tỏa chính sách Nghị quyết 98/2023/NQ-QH15, đầu mối Điều phối: Đảm bảo các cơ chế đặc thù được triển khai nhanh chóng. Là đầu mối hợp tác quốc tế và kết nối các nguồn lực trong nước.
Doanh nghiệp/PPP (Market Accelerator) Huy động vốn tư nhân, quỹ đầu tư mạo hiểm, cung cấp hạ tầng chuyên biệt, tạo sức bật thị trường: Đảm bảo tốc độ triển khai nhanh, thúc đẩy thương mại hóa, và thu hút vốn từ các quỹ đầu tư mạo hiểm quốc tế.
Cơ chế Phối hợp của các Trung tâm trong mạng lưới:
- Dòng chuyển giao IP / Nhân lực (M1 - M2 >>> M3 >>> M4): Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh tạo ra IP và các doanh nghiệp Spin-off; Khu Công nghệ cao cung cấp môi trường thử nghiệm công nghệ cao (Sandbox) để hoàn thiện sản phẩm. SIHUB và Doanh nghiệp kết nối các Spin-off này với vốn mạo hiểm (VC) và thị trường.
- Liên kết đào tạo: Phối hợp chặt chẽ với Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc tế Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh để triển khai các chương trình đào tạo chuyên sâu (AI, Bán dẫn, Fintech) được thiết kế bởi Trung tâm và các tập đoàn công nghệ, đảm bảo nguồn nhân lực cho toàn hệ sinh thái.
- Sử dụng hạ tầng dùng chung: Thành phố cấp/hỗ trợ kinh phí đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật phục vụ dùng chung cho các Trung tâm đổi mới sáng tạo đạt cấp quốc gia và tầm cỡ quốc tế để các cá nhân, doanh nghiệp khởi nghiệp được tiếp cận trang thiết bị R&D, thử nghiệm một cách thuận lợi.
(iv) Liên kết Khu vực, Quốc gia và Quốc tế
Thành phố Hồ Chí Minh xác định vai trò là trung tâm kinh tế, Khoa học Công nghệ, đổi mới sáng tạo hàng đầu cả nước, nên cần tăng cường liên kết ở cấp độ vĩ mô.
- Mở rộng khu vực: Nghiên cứu bố trí thêm địa điểm trụ sở để mở rộng Trung tâm Khởi nghiệp Sáng tạo Thành phố Hồ Chí Minh (SIHUB) tại khu vực Bình Dương và Bà Rịa Vũng Tàu (cũ) , nhằm lan tỏa hoạt động đổi mới sáng tạo và tạo liên kết chặt chẽ với Vùng Đông Nam Bộ theo tinh thần Nghị quyết số 24- NQ/TW.
- Kết nối với NIC: Phát triển mạng lưới trung tâm địa phương liên kết với Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia (NIC) để tạo sự đồng bộ trong hệ sinh thái quốc gia.
- Kết nối Quốc tế: Các Trung tâm có Kết nối chính thức theo tiêu chí của đề án với các Trung tâm Đổi mới sáng tạo ngoài nước hoặc mạng lưới quốc tế (như BLOCK71, Station F, MaRS, v.v..).
5.1. Giải pháp thể chế, chính sách:
- Áp dụng cơ chế chính sách đặc thù về thử nghiệm (Sandbox): Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành danh mục các lĩnh vực được thí điểm Sandbox (theo Nghị quyết 98/2023/QH15 và Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo 2025) tại Trung tâm Đổi mới sáng tạo tầm cỡ quốc tế như: Fintech, Y tế số, AI/Big Data, công nghệ mới, công nghệ số, công nghệ sinh học… để cho phép các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo (startup) được thử nghiệm trong khuôn khổ có kiểm soát mà không vi phạm các quy định.
Hội đồng nhân dân Thành phố ban hành cơ chế, chính sách mới để hỗ trợ phát triển các Trung tâm đổi mới sáng tạo cấp tỉnh, cấp quốc gia và tầm cỡ quốc tế, phát triển các ngành, lĩnh vực trọng điểm của Thành phố (công nghiệp công nghệ cao; dịch vụ cảng biển, logistics; du lịch, thương mại…). Tiếp tục bổ sung hoàn thiện các chính sách đang triển khai để tạo điều kiện thu hút các dự án khởi nghiệp sáng tạo trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
- Thí điểm Mô hình đối tác công - công (PP) cho Đổi mới sáng tạo giữa Ủy ban nhân dân Thành phố và Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh để phát triển Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc tế Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó có: cơ chế chính sách tài trợ đầu tư đổi mới sáng tạo của Thành phố về cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật phục vụ dùng chung cho Trung tâm tiếp nhận và vận hành để phục vụ hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm, thí nghiệm, hoàn thiện sản phẩm, giải pháp của các cá nhân, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, viện trường, doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố.
- Thí điểm Mô hình đối tác công - tư (PPP) cho Đổi mới sáng tạo: cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo điều kiện cho phép nhà đầu tư tư nhân được hưởng các ưu đãi về đất đai, hạ tầng kỹ thuật, kinh phí hỗ trợ/tài trợ của nhà nước khi đầu tư xây dựng và vận hành Trung tâm theo hình thức PPP, với điều kiện cam kết đạt các mục tiêu đã đề ra theo tiêu chí xác định Trung tâm đổi mới sáng tạo tầm cỡ quốc tế. Xây dựng cơ chế hợp tác công tư PPP minh bạch để tạo điều kiện thu hút phát triển Trung tâm đổi mới sáng tạo tầm cỡ quốc tế do doanh nghiệp là chủ thể sở hữu.
- Thí điểm hình thức Thị thực Khởi nghiệp sáng tạo (Startup Visa): có cơ chế cấp Thị thực khởi nghiệp sáng tạo linh hoạt (tương tự Area 2071) cho nhà sáng lập (founder) và chuyên gia công nghệ, chuyên gia tư vấn quốc tế (cùng thân nhân: vợ/chồng, con) vào làm việc tại Trung tâm đổi mới sáng tạo tầm cỡ quốc tế, với thời hạn cư trú lên đến 5 năm và thủ tục đơn giản hóa.
- Có cơ chế chính sách khuyến khích nhà đầu tư, doanh nghiệp và đại học tham gia đầu tư, hình thành và phát triển mô hình Trung tâm đổi mới sáng tạo tầm cỡ quốc tế.
- Ban hành cơ chế tạo điều kiện cho các Trung tâm đổi mới sáng tạo theo mô hình (công - công; công tư) được áp dụng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát khai thác cơ sở hạ tầng kỹ thuật công nghệ của Dự án để thu hút nguồn lực xã hội hóa; tự chủ quyết định mức chi tiêu, sử dụng kinh phí tài chính trên cơ sở kinh phí được Nhà nước giao, vốn thu từ hoạt động và nguồn vốn hợp pháp khác; được tiếp nhận các khoản viện trợ, tài trợ, quà biếu, tặng/cho và được sử dụng tương tự như nguồn vốn thu từ hoạt động kinh doanh sản xuất; được sử dụng tài sản Nhà nước giao vào hoạt động dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp tại Dự án trên cơ sở đảm bảo thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ, khai thác sử dụng hiệu quả tài sản; được trích khấu hao tài sản cố định và tiền thu từ thanh lý tài sản thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước để bổ sung vào Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của đơn vị; được để lại một tỉ lệ khi thực hiện nghĩa vụ tài chính (phí, lệ phí) theo quy định của pháp luật để bổ sung Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp của đơn vị; giữ lại một phần phí, lệ phí để tái đầu tư theo tỉ lệ đề xuất.
5.2. Giải pháp đầu tư cơ sở hạ tầng:
Thành phố sử dụng nguồn vốn ngân sách để bố trí kinh phí đầu tư về cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật dùng chung, các trang thiết bị phục vụ cho hoạt động đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo, nghiên cứu phát triển về khoa học công nghệ để nâng cấp, phát triển Vườn ươm doanh nghiệp công nghệ cao (Ban quản lý Khu công nghệ cao), Trung tâm Khởi nghiệp sáng tạo Thành phố Hồ Chí Minh (Sở Khoa học và Công nghệ) trở thành Trung tâm Đổi mới sáng tạo tầm cỡ quốc tế.
Nghiên cứu bố trí thêm về địa điểm trụ sở để mở rộng Trung tâm khởi nghiệp sáng tạo Thành phố Hồ Chí Minh tại khu vực Bình Dương và Bà Rịa Vũng Tàu (cũ) để nâng cao diện tích sàn và địa điểm cho hoạt động khởi nghiệp sáng tạo của Thành phố.
Miễn tiền thuê đất trong 10 năm, giảm 50% cho thời gian còn lại cho các dự án đầu tư Trung tâm đổi mới sáng tạo; Miễn tiền sử dụng hạ tầng cho diện tích đất được thuê nằm trong khu vực phải trả tiền sử dụng hạ tầng đối với các công trình hạ tầng kỹ thuật do nhà nước đầu tư; Miễn toàn bộ kinh phí bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ, tái định cư; Ngân sách nhà nước hỗ trợ toàn bộ kinh phí san lấp mặt bằng của dự án đầu tư cơ sở Trung tâm đổi mới sáng tạo công mới.
Tăng đầu tư cho khoa học và công nghệ, đảm bảo đầu tư cho khoa học và công nghệ đạt 3% tổng ngân sách chi hằng năm của Thành phố.
Đảm bảo ngân sách hằng năm cho hoạt động hỗ trợ ươm tạo công nghệ, ươm tạo dự án khởi nghiệp sáng tạo của Thành phố để tạo điều kiện hỗ trợ các Trung tâm đổi mới sáng tạo tầm cỡ quốc tế triển khai ươm tạo.
Tăng cường cơ chế tự chủ tài chính, cho phép các Trung tâm đổi mới sáng tạo công (là đơn vị sự nghiệp công lập) được giữ lại và sử dụng toàn bộ nguồn thu từ hoạt động dịch vụ, liên doanh, liên kết, và cho thuê không gian để tái đầu tư vào hoạt động ươm tạo và nghiên cứu; được tự chủ quyết định mức chi tiêu, sử dụng kinh phí tài chính trên cơ sở kinh phí được Nhà nước giao, vốn thu từ hoạt động và nguồn vốn hợp pháp khác; được tiếp nhận các khoản viện trợ, tài trợ, quà biếu, tặng/cho và được sử dụng tương tự như nguồn vốn thu từ hoạt động kinh doanh sản xuất; được sử dụng tài sản Nhà nước giao vào hoạt động dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp tại Dự án trên cơ sở đảm bảo thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ, khai thác sử dụng hiệu quả tài sản; được trích khấu hao tài sản cố định và tiền thu từ thanh lý tài sản thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước để bổ sung vào Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của đơn vị; được giữ lại một phần phí, lệ phí để tái đầu tư theo tỉ lệ đề xuất; được áp dụng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát hợp tác công-tư khai thác cơ sở hạ tầng kỹ thuật công nghệ của Dự án để thu hút nguồn lực xã hội hóa.
Đối với các Trung tâm đổi mới sáng tạo hoạt động theo hình thức công tư hoặc các trung tâm đổi mới sáng tạo được danh nghiệp thành lập được áp dụng mức thuế suất 5% thuế thu nhập doanh nghiệp, trong đó, được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời gian 04 năm và giảm 50% số thuế thu nhập phải nộp trong 09 năm tiếp theo; Được tính vào chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp đối với hoạt động nghiên cứu và phát triển bằng 200% chi phí thực tế của hoạt động này; được trích tối đa 20% thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp để lập quỹ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nghiên cứu phát triển; Miễn/giảm thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng đối với thiết bị, máy móc, phụ tùng, vật tư nhập khẩu thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu để sử dụng trực tiếp cho hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, hỗ trợ doanh nghiệp được triển khai tại trung tâm; Sản phẩm đầu ra từ việc thực hiện hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ với các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo từ ngân sách nhà nước thực hiện tại trung tâm được miễn/giảm thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu (nếu có); Hưởng chế độ ưu tiên về thủ tục hải quan theo quy định của pháp luật về hải quan và thủ tục về thuế theo quy định của pháp luật về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu khi đáp ứng các điều kiện áp dụng chế độ ưu tiên theo quy định của pháp luật về hải quan và thuế, trừ điều kiện về kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu; Thu nhập từ thực hiện hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ với các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo từ ngân sách nhà nước thực hiện tại trung tâm được miễn/giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân.
Các Trung tâm đổi mới sáng tạo có vốn đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước được công nhận được Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Quỹ Đổi mới sáng tạo Quốc gia, Quỹ đổi mới sáng tạo Thành phố cho vay không lấy lãi để tạo vốn thực hiện chức năng, nhiệm vụ (nếu có); Các Dự án đầu tư của các Trung tâm đổi mới sáng tạo có vốn đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước thuộc danh mục các dự án được vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước, nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện vay vốn thì được vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước theo quy định của pháp luật; Các Trung tâm đổi mới sáng tạo có vốn đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước được nhận tài trợ, hỗ trợ, vay vốn và bảo lãnh vốn vay từ các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách và các định chế tài chính theo quy định của pháp luật.
Mô hình Doanh nghiệp/PPP (M4) được xem là giải pháp tài chính tối ưu để đảm bảo tốc độ triển khai hạ tầng nhanh chóng, đáp ứng yêu cầu diện tích sàn vận hành tối thiểu và tiêu chuẩn quốc tế. Khuyến nghị Thành phố áp dụng các ưu đãi PPP mới nhất để hấp dẫn nhà đầu tư:
+ Tăng Tỷ lệ Vốn Nhà nước: Đề xuất áp dụng tỷ lệ vốn nhà nước tham gia lên tới 70% tổng mức đầu tư trong lĩnh vực KHCN. Điều này giảm gánh nặng vốn ban đầu cho khu vực tư nhân.
+ Cơ chế Chia sẻ Rủi ro Doanh thu (Revenue Risk Sharing): Cơ chế quan trọng nhất là việc Nhà nước chia sẻ rủi ro doanh thu. Dự thảo Nghị định đang được xây dựng cho phép Nhà nước chia sẻ tới 100% phần chênh lệch giảm doanh thu nếu kết quả thực tế thấp hơn phương án tài chính đã duyệt. Việc áp dụng tối đa cơ chế chia sẻ rủi ro này cho các dự án PPP xây dựng và vận hành Trung tâm Đổi mới sáng tạo sẽ loại bỏ rào cản tài chính lớn nhất cho nhà đầu tư tư nhân, khuyến khích các tập đoàn lớn (CT Group, Becamex,…) tham gia.
+ Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cần ban hành Nghị quyết có cơ chế cho thuê đất, nhà trả tiền một lần hoặc miễn, giảm tiền thuê nhà, đất công với mức ưu đãi cao nhất cho nhà đầu tư để hình thành, vận hành và phát triển Trung tâm Đổi mới sáng tạo theo hình thức doanh nghiệp/PPP. Đây là yếu tố then chốt giúp giảm chi phí cố định và tăng tính khả thi tài chính cho các mô hình doanh nghiệp/PPP.
+ Vốn mồi từ Ngân sách Nhà nước và Quỹ chuyên biệt: Ngân sách nhà nước đóng vai trò là "vốn mồi" và tài trợ cho hạ tầng dùng chung không sinh lợi nhuận trực tiếp:
o Đầu tư Hạ tầng dùng chung: Thành phố sử dụng nguồn vốn ngân sách theo Nghị quyết 98/2023/QH15 và các quy định pháp luật để bố trí kinh phí đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị R&D dùng chung cho Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc tế Khu Công nghệ cao (M2) và Trung tâm Khởi nghiệp sáng tạo (M3).
o Cấp Vốn mồi Deep-Tech: Hội đồng nhân dân Thành phố cần có cơ chế sử dụng Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Thành phố hoặc nguồn vốn từ Chương trình quốc gia để cấp vốn mồi (Seed Funding) cho các chương trình ươm tạo Deep-Tech tại Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc tế Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (M1). Việc này hỗ trợ các dự án R&D có độ trễ thương mại hóa cao, nơi vốn tư nhân thường ngần ngại tham gia.
Thu hút Quỹ Đầu tư Mạo hiểm (VC) và Nguồn vốn Quốc tế: Thu hút ít nhất 5 triệu USD đầu tư quốc tế mỗi năm là thước đo trực tiếp về tính quốc tế và tiềm năng sinh lời của hệ sinh thái.
Giải quyết Rào cản Thủ tục: Kiến nghị Chính phủ có chính sách ngoại hối linh hoạt cho hoạt động của các quỹ đầu tư mạo hiểm (VC) nước ngoài. Đồng thời, cần đơn giản hóa thủ tục góp vốn bằng tài sản trí tuệ (IP) và thủ tục chuyển tiền đầu tư gián tiếp cho các quỹ VC nước ngoài đầu tư vào startup tại Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc tế. Vốn mạo hiểm phụ thuộc vào tốc độ và sự rõ ràng của thủ tục pháp lý.
Chính sách Thu hút Nhân tài Quốc tế: Vốn VC thường đi theo nhân tài. Việc thí điểm hình thức Thị thực Khởi nghiệp sáng tạo (Startup Visa) linh hoạt (thời hạn cư trú lên đến 5 năm) cho nhà sáng lập (Founder) và chuyên gia công nghệ, chuyên gia tư vấn quốc tế là giải pháp then chốt để thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, từ đó thúc đẩy khả năng gọi vốn quốc tế.
5.4. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực:
Đẩy mạnh hoạt động liên kết đại học - viện nghiên cứu - doanh nghiệp để đào tạo nhân lực về đổi mới sáng tạo. Phối hợp chặt chẽ với Đại học Quốc gia - TP Hồ Chí Minh để triển khai các chương trình đào tạo chuyên sâu (AI, Bán dẫn, Fintech) được thiết kế bởi Trung tâm và các tập đoàn công nghệ.
Thu hút chuyên gia, nhà khoa học: Trung tâm được áp dụng cơ chế lương, thưởng cạnh tranh với khu vực tư nhân, không phụ thuộc vào thang bảng lương công chức viên chức, để thu hút đội ngũ quản lý và chuyên gia quốc tế chất lượng cao; Tăng cường thực hiện Nghị quyết số 27/2023/NQ-HĐND ngày 08/12/2023 của Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về mức thu nhập chuyên gia, nhà khoa học, người có tài năng đặc biệt đối với lĩnh vực Thành phố Hồ Chí Minh có nhu cầu thu hút. Các Trung tâm đổi mới sáng tạo có vốn đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước được tự chủ quyết định việc ký hợp đồng hoặc tuyển dụng, bổ nhiệm các chuyên gia giỏi, nhà khoa học hàng đầu trong nước và nước ngoài vào vị trí lãnh đạo, quản lý các phòng, đơn vị trực thuộc mà không cần có đủ các điều kiện, tiêu chuẩn về chức danh lãnh đạo, quản lý theo quy định của cơ quan nhà nước hoặc doanh nghiệp nhà nước nhằm thu hút và giữ chân nhân lực có trình độ chuyên môn tốt làm việc. Được chủ động trong công tác đánh giá, kỷ luật, cách chức, cho thôi việc đối với cán bộ có năng lực kém, không đáp ứng yêu cầu công việc theo quy trình quy định của pháp luật.
Các Trung tâm đổi mới sáng tạo chủ động xây dựng, quyết định chế độ và cơ chế trả lương linh hoạt từ nguồn thu hợp pháp theo vị trí việc làm với chế độ đãi ngộ phù hợp và trả lương theo vị trí việc làm trên cơ sở áp dụng bản mô tả công việc và KPI để thu hút nhân lực có trình độ chuyên môn cao về quản lý khoa học công nghệ; mời/thuê nhà khoa học, chuyên gia quốc tế không qua chỉ tiêu biên chế; thanh toán chi phí thuê chuyên gia theo cơ chế thị trường; áp dụng mức lương, thưởng cạnh tranh theo thị trường quốc tế, linh hoạt theo hiệu suất/chỉ tiêu khoán, không bị giới hạn bởi các quy định hiện hành.
Miễn thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp của các cá nhân, tổ chức có khoản thu nhập từ chuyển nhượng vốn góp, quyền góp vốn vào các Trung tâm đổi mới sáng tạo; Miễn thuế thu nhập cá nhân trong thời hạn 05 năm đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của các chuyên gia, nhà khoa học, cá nhân khởi nghiệp sáng tạo làm việc tại các Trung tâm đổi mới sáng tạo; Thu nhập từ việc thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước tại các Trung tâm đổi mới sáng tạo là thu nhập không chịu thuế thu nhập cá nhân; Có chính sách ưu đãi, hỗ trợ nhà ở cho cán bộ trong thời gian làm việc tại các Trung tâm đổi mới sáng tạo phù hợp với quy hoạch.
Nhân sự tại làm việc tại các Trung tâm đổi mới sáng tạo được miễn/giảm thuế thu nhập cá nhân theo chính sách nhân lực công nghệ cao; hưởng hỗ trợ nhà ở, phương tiện, chi phí sinh hoạt từ nguồn ngân sách hoặc Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của các Trung tâm; Được cấp học bổng, cơ hội trao đổi quốc tế, tài trợ công bố khoa học, hội thảo.
Các Trung tâm đổi mới sáng tạo có vốn đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước được tự chủ quyết định việc mời/thuê các nhà khoa học, chuyên gia quốc tế đến phối hợp nghiên cứu, trao đổi công tác và mức độ đãi ngộ, chi phí thuê theo cơ chế thị trường.
Giấy phép lao động: Người nước ngoài là chuyên gia làm việc tại các Trung tâm đổi mới sáng tạo cấp quốc gia không thuộc diện phải cấp giấy phép lao động để thực hiện hợp đồng lao động với các Trung tâm ở các vị trí công việc quản lý,
điều hành, chuyên gia và lao động kỹ thuật mà người lao động Việt Nam chưa đáp ứng được theo nhu cầu của các Trung tâm.
Đối với các Trung tâm đổi mới sáng tạo hoạt động theo hình thức công tư hoặc các trung tâm đổi mới sáng tạo được doanh nghiệp thành lập thì chi phí đào tạo và đào tạo lại nhân lực của được tính vào chi phí được trừ để xác định thu nhập chịu thuế khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp.
Thành phố sử dụng các nguồn lực hợp pháp của mình để hỗ trợ chủ động các chương trình đào tạo phát triển nguồn nhân lực cho các Trung tâm đổi mới sáng tạo phù hợp định hướng phát triển kinh tế xã hội của địa phương.
5.5. Giải pháp về cơ chế hoạt động:
Các Trung tâm đổi mới sáng tạo đạt cấp quốc gia/quốc tế:
+ Được ưu tiên trong việc đặt hàng nghiên cứu và giải pháp đổi mới sáng tạo từ các Sở, ngành Thành phố. Là đơn vị chủ trì triển khai các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp: chuyển đổi số, đổi mới công nghệ, phát triển tài sản trí tuệ...
+ Được phép đứng tên sở hữu hoặc đồng sở hữu sản phẩm nghiên cứu và phát triển với các bên hợp tác; Được nhận chuyển giao không bồi hoàn tài sản, kết quả, sản phẩm hình thành từ nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách Thành phố khi đáp ứng đủ điều kiện về năng lực ứng dụng, phát triển kết quả, sản phẩm để phục vụ quản lý, phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố; Được ưu tiên tham gia gói thầu mua sắm công đổi mới sáng tạo của Thành phố nếu sản phẩm đạt chuẩn.
+ Được miễn một số tiêu chí đánh giá hồ sơ dự sơ tuyển, hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất về năng lực, kinh nghiệm của nhà thầu khi tham gia đấu thầu các gói thầu của Thành phố, bao gồm yêu cầu về doanh thu, nguồn lực tài chính, hợp đồng tương tự và các yêu cầu khác để phù hợp với đặc thù của các Trung tâm đổi mới sáng tạo. Khi đánh giá, xếp hạng hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất, cùa các Trung tâm đổi mới sáng tạo được tính ưu đãi như đối với trường hợp nhà thầu cung cấp hàng hóa có chi phí sản xuất trong nước chiếm tỷ lệ từ 25% trở lên theo quy định của pháp luật về đấu thầu.
+ Được hỗ trợ 1 phần chi phí thương mại hóa sản phẩm.
Các doanh nghiệp, cá nhân có dự án tham gia các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo từ nguồn ngân sách nhà nước tại các Trung tâm đổi mới sáng tạo cấp quốc gia/quốc tế được hưởng các chính sách ưu đãi áp dụng cho dự án công nghệ cao, dự án đổi mới sáng tạo; nhân lực tại các Trung tâm Đổi mới sáng tạo đạt cấp quốc gia/quốc tế được hưởng các chính sách đãi ngộ cho nhân lực công nghệ cao (miễn/giảm thuế TNCN, chế độ đãi ngộ vượt mức chung, hỗ trợ lưu trú, phương tiện đi lại….); được hưởng ưu đãi về lao động, tín dụng đầu tư, đăng ký doanh nghiệp và xác lập quyền sở hữu công nghiệp, các cơ chế, chính sách khác như cá nhân, doanh nghiệp hoạt động tại Trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia (NIC).
Doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo đang hoạt động hoặc đang được ươm tạo, được nhận vốn đầu tư mạo hiểm của thành phố/quốc gia tại các Trung tâm đổi mới sáng tạo cấp quốc gia, quốc tế: được đặt hàng các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp của Thành phố trong đó lồng ghép các chính sách hỗ trợ tổng thể để thu hút doanh nghiệp như khuyến công, khuyến nông, hỗ trợ Doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số...
Tuyên truyền, nâng cao nhận thức về hoạt động của các Trung tâm đổi mới sáng tạo trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm thúc đẩy văn hóa đổi mới sáng tạo trong xã hội; Biên soạn, phát hành tài liệu hỗ trợ hoạt động đổi mới sáng tạo; Xây dựng và vận hành phần mềm, chương trình ứng dụng trên thiết bị điện tử, thiết bị di động để cung cấp thông tin, hỗ trợ, tư vấn về các hoạt động của trung tâm đổi mới sáng tạo
Vinh danh, khen thưởng đối với các tập thể, cá nhân có thành tích trong hoạt động phát triển các trung tâm đổi mới sáng tạo; Giới thiệu, quảng bá và triển khai các hoạt động xúc tiến thương mại khác nhằm khai thác, phát triển các sản phẩm đổi mới sáng tạo của các trung tâm và các đối tác.
Xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số phục vụ doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân của các Trung tâm đổi mới sáng tạo; Liên kết hệ thống cơ sở dữ liệu của các Trung tâm với hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số cũng như các cơ sở dữ liệu khác của nhà nước để phục vụ doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân;
5.7. Giải pháp hợp tác quốc tế:
Thiết lập mạng lưới hợp tác với các trung tâm quốc tế (MaRS, Station F, Block71, Area 2071…);
Tổ chức chương trình “Ho Chi Minh city Innovation Landing Pad” tại các Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc tế để hỗ trợ startup quốc tế vào Việt Nam, góp phần tao sự thuận lợi trong giao lưu hợp tác quốc tế, thúc đẩy trao đổi công nghệ mới.
Thúc đẩy hoạt động xúc tiến công nghệ, đầu tư, đổi mới sáng tạo quốc tế hàng năm tại Thành phố Hồ Chí Minh thông qua sự kiện mang tính quốc tế do Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc tế, Thành phố (Sở khoa học và công nghệ) tổ chức.
Tổ chức các hội nghị, hội thảo, sự kiện khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số khu vực và quốc tế;
Tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu để phục vụ hoạt động đổi mới sáng tạo của các Trung tâm với các hệ thống hỗ trợ đổi mới sáng tạo trên thế giới như: Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO); Tổ chức Năng suất Châu Á.
* Điều phối mạng lưới trung tâm đổi mới sáng tạo:
- Thiết lập Hội đồng điều hành:
Do mô hình đổi mới sáng tạo của Thành phố Hồ Chí Minh là mạng lưới phân tán theo chức năng, việc thành lập một Hội đồng Điều hành (Coordination Board) cấp cao là yêu cầu cần thiết để tránh sự phân mảnh và đảm bảo tính đồng bộ của hệ sinh thái. Hội đồng này nên bao gồm đại diện Lãnh đạo Ủy ban nhân dân Thành phố/Sở Khoa học và Công nghệ, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Ban Quản lý Khu Công nghệ cao (SHTP), và đại diện từ khu vực tư nhân (các nhà đầu tư PPP và các doanh nghiệp công nghệ chiến lược).
Chức năng chính của Hội đồng Điều hành là giám sát, đánh giá kết quả thực hiện đề án dựa trên các chỉ tiêu, tiêu chí để làm cơ sở điều phối, phân bổ ngân sách nhà nước, nguồn lực của mạng lưới để hỗ trợ cho các Trung tâm đăng ký tham gia đề án về cơ sở vật chất, hạ tầng dùng chung giữa các trụ cột, và đảm bảo luồng chuyển giao công nghệ diễn ra suôn sẻ từ môi trường nghiên cứu (ĐHQG-HCM) sang môi trường thương mại hóa (Khu CNC, SIHUB) và Doanh nghiệp (PPP).
- Vai trò của từng Trung tâm đổi mới sáng tạo tầm cỡ quốc tế:
Để đạt tầm quốc tế, các Trung tâm Đổi mới sáng tạo cần có vai trò tham mưu chiến lược về chính sách, tương tự như chức năng của NIC - Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia. Các Trung tâm Đổi mới sáng tạo tầm cỡ quốc tế có trách nhiệm thu thập dữ liệu thị trường, báo cáo đánh giá và đề xuất các cơ chế thử nghiệm chính sách (Regulatory Sandboxes) để cơ quan quản lý nhà nước (Sở Khoa học và Công nghệ) của Thành phố tổng hợp, tham mưu trình cấp có thẩm quyền ban hành các cơ chế, chính sách kịp thời để thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của Thành phố.
Các Trung tâm Đổi mới sáng tạo đạt tầm cỡ quốc tế là những trung tâm đóng vai trò nền tảng của hệ thống mạng lưới, thực hiện dẫn dắt và hỗ trợ, liên kết các Trung tâm Đổi mới sáng tạo trong chuỗi liên kết do mình dẫn dắt để cùng phát triển, thực hiện điều phối và chia sẻ nguồn lực của mạng lưới có hiệu quả. Tạo điều kiện thúc đẩy hợp tác giữa các thành phần trong chuỗi liên kết với mạng lưới đối tác quốc tế do Trung tâm tham gia.
*Quốc tế hóa nhân sự của Trung tâm Đổi mới sáng tạo tầm cỡ quốc tế:
Thiết lập một cổng thông tin nhân lực quốc tế dưới sự điều phối của SIHUB để tiếp nhận và hỗ trợ các nhà khoa học và chuyên gia nước ngoài trong mọi vấn đề từ thủ tục miễn thuế đến việc tiếp cận các cơ sở hạ tầng dùng chung.
Mỗi trung tâm tự chủ động trong tuyển chọn và sử dụng nguồn nhân lực có trình độ, kinh nghiệm quốc tế để thúc đẩy các hoạt động nghiên cứu phát triển, đổi mới sáng tạo trong các lĩnh vực mà trung tâm có thế mạnh. Thực hiện chia sẻ nguồn lực của chuyên gia quốc tế để hỗ trợ các trung tâm trong mạng lưới và trong chuỗi liên kết.
VI. TỔ CHỨC THỰC HIỆN VÀ ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ
Tham khảo về ngân sách nhà nước (public/state budget) để hỗ trợ cho các trung tâm đổi mới sáng tạo (innovation / R&D centers) ở một số quốc gia Anh, Mỹ, Singapore, như sau:
(i) Vương quốc Anh (UK)
Ngân sách R&D (Nghiên cứu & đổi mới sáng tạo) của Bộ Khoa học, Đổi mới & Công nghệ (DSIT) trong niên độ 2025/2026 là £13,9 tỷ.
Trong số đó, phần dành cho UKRI (UK Research & Innovation, cơ quan trọng yếu điều phối quỹ R&D và trung tâm đổi mới) là khoảng £8,811 triệu (tức £8,8 tỷ) trong 2025/2026[5].
Trong Kế hoạch Chi tiêu (Spending Review) đến 2029/2030, Chính phủ Anh cam kết £86 tỷ cho R&D - định hướng hỗ trợ mạnh mẽ cho các “game changer” (như các trung tâm đổi mới, nghiên cứu cao rủi ro)[6].
Ngoài ra, UK có chương trình “Regional Innovation Clusters”: ví dụ chính phủ đã cấp £75 triệu cho 8 “innovation launchpads” khu vực (mỗi launchpad ~£7,5 triệu) để hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo khu vực. Khoản tài trợ từ chương trình hướng đến hỗ trợ các SMEs, bao gồm tài trợ cho nghiên cứu và phát triển (R&D), tiếp cận các nguồn lực đổi mới chuyên biệt, tham gia liên doanh và kết nối với các SMEs khác.
(ii) Hoa Kỳ (Mỹ)
Ở Mỹ, mô hình hỗ trợ đổi mới sáng tạo chủ yếu thông qua các “tech hubs”, viện nghiên cứu liên bang, quỹ ARPA-type / DARPA-type, và các trung tâm AI/ công nghệ cao:
Năm 2024, Chính phủ Mỹ đã công bố US$504 triệu (liên bang) để hỗ trợ 12 khu công nghệ (“regional technology hubs”) - một phần của Chương trình CHIPS & Science Act[7].
(iii) Singapore
Chính phủ Singapore cam kết dành ~1% GDP cho R&D / đổi mới trong khuôn khổ RIE 2025 (Research, Innovation & Enterprise 2021-2025). Singapore có chiến lược rất rõ ràng: sử dụng RIE2025 để tài trợ các trung tâm đổi mới sáng tạo (R&D) trọng điểm, đặc biệt tập trung vào AI, công nghệ nền tảng, phát triển nhân tài sáng tạo: 5,2 tỷ dành riêng cho innovation infrastructure (innovation centres, AI hubs, Incubators) trong giai đoạn.
Theo FY 2025 Budget Statement của Singapore, chi khoảng S$1 tỷ cho cơ sở R&D: “public biosciences & medtech research infrastructure” và “national semiconductor R&D fabrication facility”.
Trên cơ sở tham khảo một số quốc gia, để có thể triển khai đề án hiệu quả trong giai đoạn 2026 -2030, cần bố trí ngân sách dự kiến hằng năm tối thiểu để hỗ trợ các Trung tâm tham gia vào đề án có thể phát triển thành Trung tâm đổi mới sáng tạo tầm cỡ quốc tế, cụ thể như sau:
|
STT |
Nội dung chi hỗ trợ/tài trợ từ ngân sách |
Số tiền hỗ trợ tối đa (tỷ đồng) |
Số lượng hỗ trợ dự kiến |
Tổng tiền (tỷ đồng) |
Ghi chú |
|
1 |
Hỗ trợ đầu tư về Hạ tầng, trang thiết bị nghiên cứu, thiết bị thử nghiệm, vận hành |
100 |
4 |
400 |
Mức chi tối đa cho một hạng mục được hỗ trợ. Xây dựng lab prototyping, server, equipment… |
|
2 |
Chi hỗ trợ vận hành kỹ thuật, thiết bị ban đầu (chuyển giao công nghệ, thuê chuyên gia vận hành ban đầu, quản trị dự án…). |
10 |
4 |
40 |
Mức chi tối đa cho 1 dự án hỗ trợ |
|
3 |
Chi hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực để tiếp nhận chuyển giao công nghệ, mời chuyên gia quốc tế đào tạo, cử đào tạo trong và ngoài nước |
10 |
5 |
50 |
Mức chi tối đa cho 1 đề xuất hỗ trợ |
|
4 |
Chi hỗ trợ đăng ký bảo hộ về SHTT trong và ngoài nước |
10 |
4 |
40 |
Tối đa 1 đơn vị |
|
5 |
Hỗ trợ thương mại hóa sản phẩm R&D |
5 |
10 |
50 |
Sản xuất thử nghiệm, thử nghiệm thị trường… |
|
6 |
Hợp tác quốc tế: Hỗ trợ kinh phí tham gia thành viên mạng lưới quốc tế, tham gia sự kiện quốc tế ở nước ngoài, tổ chức sự kiện quốc tế ở trong nước |
10 |
4 |
40 |
Mức tối đã được hỗ trợ theo thuyết minh/năm |
|
Tổng cộng |
|
|
620 |
|
|
Khoản kinh phí được các Trung tâm xây dựng trong thuyết minh dự toán và được cấp trọn gói 1 lần/theo thuyết minh nội dung. Đơn vị sử dụng ngân sách được chi hỗ trợ có trách nhiệm thực hiện đúng các nội dung đã thuyết minh và tự chịu trách nhiệm. Các khoản kinh phí cấp chưa sử dụng hết sẽ được chuyển sang năm tiếp theo của đơn vị để sử dụng theo đúng nội dung đã thuyết minh đăng ký.
6.2.1. Sở Khoa học và Công nghệ: là cơ quan chủ trì, chịu trách nhiệm điều phối, hỗ trợ và giám sát thực hiện Đề án.
Chủ trì triển khai Đề án, làm đầu mối điều phối các sở ban ngành, đơn vị liên quan để xây dựng đề án/ kế hoạch thực hiện để phát triển các mô hình Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc tế tại đề án này.
Phối hợp Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh xây dựng hoàn thiện Đề án chi tiết thành lập Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc tế Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt/ ban hành chậm nhất trong quý 1 năm 2026.
Phối hợp Ban Quản lý Khu công nghệ cao và các đơn vị liên quan để góp ý đề án nâng cấp “Vườn ươm doanh nghiệp công nghệ cao” thành “Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc tế Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh”.
Phối hợp hỗ trợ, tư vấn cho doanh nghiệp xây dựng, phát triển Trung tâm Đổi mới sáng tạo đạt cấp quốc gia và quốc tế theo tiêu chí tại đề án này.
Định kỳ hằng năm tổng hợp báo cáo kết quả thực hiện và đề xuất bổ sung, điều chỉnh chính sách (nếu có) trình Ủy ban nhân dân Thành phố.
6.2.2. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh:
Chủ trì xây dựng đề án, phối hợp cùng Sở Khoa học và Công nghệ, Viện nghiên cứu phát triển Thành phố, các sở ngành hoàn thiện Đề án thành lập “Trung tâm đổi mới sáng tạo quốc tế Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh” và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt/ ban hành chậm nhất trong quý 1 năm 2026.
Đề xuất kiến nghị Chính phủ, Ủy ban nhân dân Thành phố cơ chế, chính sách cần thiết để hình thành, vận hành và phát triển “Trung tâm đổi mới sáng tạo quốc tế Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh”.
Hình thành Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc tế Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh và tổ chức khánh thành trụ sở chậm nhất trong quý 2 năm 2026. Thực hiện đăng ký công nhận đạt tiêu chí trung tâm đổi mới sáng tạo cấp quốc gia trong năm 2026, và đạt tiêu chí trung tâm đổi mới sáng tạo quốc tế năm 2027.
6.2.3. Ban quản lý Khu công nghệ cao:
Chủ trì xây dựng đề án, phối hợp cùng Sở Khoa học và Công nghệ, Viện nghiên cứu phát triển Thành phố, các sở ngành, đơn vị hoàn thiện Đề án nâng cấp “Vườn ươm doanh nghiệp công nghệ cao và các Trung tâm nghiên cứu trực thuộc Ban quản lý khu công nghệ cao” thành “Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc tế Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh” và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt/ ban hành trong tháng 3 năm 2026.
Tổ chức triển khai thực hiện Đề án nâng cấp “Vườn ươm doanh nghiệp công nghệ cao và các Trung tâm nghiên cứu trực thuộc Ban quản lý khu công nghệ cao” thành “Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc tế Khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh”. Đánh giá công nhận đạt tiêu chí Trung tâm đổi mới sáng tạo cấp quốc gia trong giai đoạn 2027 - 2028, hoàn thành các tiêu chí Trung tâm đổi mới sáng tạo quốc tế năm 2028.
6.2.4. Trung tâm Khởi nghiệp sáng tạo Thành phố Hồ Chí Minh:
Xây dựng và trình đề án mở rộng và phát triển Trung tâm Khởi nghiệp sáng tạo Thành phố Hồ Chí Minh đạt “Trung tâm đổi mới sáng tạo quốc tế” theo các tiêu chí tại đề án này trình cấp có thẩm quyền phê duyệt/ ban hành trong quý 2 năm 2026.
Triển khai thực hiện đề án và đánh giá công nhận đạt tiêu chí Trung tâm đổi mới sáng tạo cấp quốc gia trong giai đoạn 2027 - 2028, hoàn thành các tiêu chí Trung tâm đổi mới sáng tạo quốc tế năm 2028.
6.2.5. Sở Tài chính:
Chủ trì tham mưu Ủy ban nhân dân Thành phố bố trí kinh phí để thực hiện việc hình thành và phát triển Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc tế theo đề án này và các đề án cụ thể do các đơn vị liên quan thực hiện.
Tham mưu các cơ chế, chính sách để thực hiện các nội dung có liên quan đến cơ chế tài chính, vốn, đầu tư, đăng ký doanh nghiệp tại mục V và khoản 6.1 mục IV đề án này.
6.2.6. Các sở ban ngành, các cơ quan, đơn vị có liên quan:
Chủ động đề xuất các giải pháp, cơ chế chính sách để phối hợp cùng các cơ quan đơn vị triển khai thực hiện đề án đảm bảo tiến độ và hiệu quả.
Tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư, doanh nghiệp triển khai thực hiện và phát triển Trung tâm đổi mới sáng tạo quốc tế do doanh nghiệp thành lập và vận hành đáp ứng các tiêu chí đã đề ra trong đề án này.
6.2.7. Cá nhân, Doanh nghiệp sáng lập và quản lý vận hành Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc tế:
Xây dựng đề án thành lập, phát triển Trung tâm Đổi mới sáng tạo (mô hình của doanh nghiệp) đạt cấp quốc gia và quốc tế và chủ động trao đổi, lấy ý kiến góp ý để triển khai.
Đề xuất các sở ban ngành hỗ trợ, tài trợ theo các cơ chế, chính sách quy định tại các văn bản pháp luật để thành lập, phát triển và đánh giá công nhận Trung tâm Đổi mới sáng tạo.
6.3.1. Kiến nghị đối với Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương:
Ban hành đồng bộ các văn bản hướng dẫn thi hành các văn bản Luật mới ban hành, sửa đổi, bổ sung để tạo điều kiện cho các trung tâm là đơn vị sự nghiệp công lập có thể hoạt động thuận lợi, thúc đẩy phát triển đổi mới sáng tạo.
Chuẩn hóa Cơ chế Sandbox: Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết về trình tự, thủ tục, thẩm quyền thí điểm cơ chế Sandbox theo Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Nghị định số 268/2025/NĐ-CP. Đặc biệt, phân cấp ủy quyền thẩm quyền quyết định danh mục công nghệ được thí điểm cho Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đối với các lĩnh vực ưu tiên tại trung tâm đổi mới sáng tạo cấp quốc gia trên địa bàn Thành phố.
Bộ Khoa học và công nghệ cần tham mưu Chính phủ: có chính sách ngoại hối linh hoạt cho hoạt động của các quỹ đầu tư mạo hiểm (VC); đơn giản hóa thủ tục góp vốn bằng tài sản trí tuệ (IP) và chuyển tiền đầu tư gián tiếp cho các quỹ VC nước ngoài đầu tư vào startup tại Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc tế, tạo điều kiện cho các vòng gọi vốn nhanh chóng.
Cho phép Thành phố thí điểm thêm một số cơ chế sandbox trong các lĩnh vực AI, dữ liệu mở, đô thị thông minh, y sinh, công nghệ xanh.
Xây dựng cơ chế ưu đãi thuế, tài chính và thủ tục đầu tư cho nhà đầu tư, doanh nghiệp, quỹ đầu tư tham gia đầu tư vào Trung tâm Đổi mới sáng tạo tầm cỡ quốc tế.
Bộ Khoa học và Công nghệ: tham mưu Chính phủ có các chính sách thay thế Đề án 844. Rà soát và thay thế các Thông tư không còn phù hợp với Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Nghị định liên quan.
Bố trí nguồn vốn hỗ trợ mục tiêu từ Chương trình quốc gia phát triển Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phục vụ phát triển hạ tầng của các Trung tâm Đổi mới sáng tạo cấp quốc gia và tầm cỡ quốc tế.
Hỗ trợ từ Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia và các quỹ khoa học cấp bộ cho các dự án nghiên cứu, thương mại hóa công nghệ tại các Trung tâm Đổi mới sáng tạo cấp quốc gia và tầm cỡ quốc tế.
6.3.2. Kiến nghị đối với Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Ban hành Nghị quyết về "Danh mục công nghệ ưu tiên thí điểm Sandbox" trong phạm vi Thành phố (Fintech, Y tế số, Smart City), và chỉ định Trung tâm đổi mới sáng tạo quốc tế theo đề án này là Đơn vị Quản lý Thí điểm cho các dự án này.
Có cơ chế tài chính để sử dụng Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Thành phố hoặc nguồn vốn Đầu tư công để: (1) Đầu tư xây dựng Hạ tầng dùng chung (Phòng thí nghiệm Công nghệ Sâu/Fab Lab); (2) Cấp vốn mồi cho các chương trình ươm tạo Deep-Tech tại Trung tâm đổi mới sáng tạo quốc tế.
Có cơ chế cho thuê đất, nhà trả tiền một lần hoặc miễn, giảm tiền thuê nhà, đất công với mức ưu đãi cao nhất cho nhà đầu tư để hình thành, vận hành và phát triển trung tâm đổi mới sáng tạo.
Có cơ chế khuyến khích các cơ quan nhà nước là Khách hàng: ban hành cơ chế cho phép các cơ quan hành chính công của Thành phố trở thành khách hàng đầu tiên (First Customer) của các startup tại tầng Trung tâm Đổi mới sáng tạo tầm cỡ quốc tế, thông qua các gói mua sắm công ưu tiên cho sản phẩm đổi mới sáng tạo được thí điểm thành công.
Bố trí nguồn vốn đầu tư công trung hạn 2026-2030 cho hạ tầng Trung tâm Đổi mới sáng tạo tầm cỡ quốc tế theo đề án này.
KINH NGHIỆM MỘT SỐ CHƯƠNG TRÌNH
KHUYẾN CÔNG NGHỆ CỦA NƯỚC NGOÀI
I. Chương trình khuyến sản xuất MEP của Hoa kỳ
1.1. Sự ra đời và những thay đổi trong định hướng chiến lược
Đi vào hoạt động vào năm 1988 với 3 trung tâm, Chương trình đối tác khuyến sản xuất của Hoa Kỳ (Manufacturing Extension Partnership, viết tắt là MEP) là một mạng lưới các trung tâm vùng hoạt động trên cơ sở quan hệ đối tác nhiều bên (cả công và tư) cung cấp dịch vụ khuyến công nghệ cho SMEs ở địa phương. Cơ quan chủ trì chương trình là Viện quốc gia về Tiêu chuẩn và Công nghệ (NIST), thuộc Bộ thương mại Hoa kỳ. Đến năm 1994 MEP nhập thêm 36 trung tâm ban đầu do Bộ quốc phòng tài trợ, sau đó tiếp tục mở rộng. Tính đến 2012 MEP đã có 60 trung tâm hoạt động ở tất cả các bang, hơn 370 văn phòng thực địa (field offices), khoảng 1300 nhân viên, hơn 2,300 nhà cung ứng dịch vụ bên ngoài, ngân sách hoạt động là 300 triệu USD, trong đó ngân sách từ chính quyền liên bang (thông qua NIST) là 123 triệu USD.
Ý đồ lúc mới thành lập MEP là để cung cấp công nghệ mới nhất (cutting - edge technology) do NIST và các phòng thí nghiệm liên bang khác phát triển cho SMEs trong lĩnh vực chế tạo. Tuy nhiên, một báo cáo đánh giá của chính phủ Hoa kỳ sau đó kết luận rằng những công nghệ tiên tiến, từ phòng thí nghiệm là không thực tế với số đông doanh nghiệp chế tác nhỏ bởi những công nghệ này nói chung là đắt đỏ, chưa được kiểm chứng và quá phức tạp. MEP sau đó đã chuyển hướng sang cung cấp những công nghệ đơn giản (basic technologies) các biện pháp tiết giảm chi phí chế tạo nhờ công cụ LEAN (tinh giản), quản lý chất lượng cho phép SMEs có thể nhanh chóng cải thiện vị thế cạnh tranh.
Đến những năm 2000s, bắt đầu từ 2007, căn cứ vào những kết luận từ nhiều đánh giá và xem xét khác nhau, MEP tiến hành xây dựng một tiếp cận chiến lược mới có tên gọi là Chiến lược Thế hệ tiếp theo (Next Generation Strategy - NGS). Từ chỗ cung cấp các dịch vụ cải thiện năng suất, nâng cao hiệu quả sản xuất của SMEs, MEP bổ sung thêm nhiệm vụ khó khăn hơn nhiều là khuyến khích SMEs trong ngành chế biến - chế tạo chấp thuận và thực hiện các chiến lược định hướng tăng trưởng và khuyến khích đổi mới liên tục thay vì chỉ là cải tiến, nâng cao hiệu suất. Ngoài mảng dịch vụ truyền thống về “cải tiến liên tục”, MEP có thêm các nhóm dịch vụ về: (i) tăng tốc công nghệ, (ii) phát triển các nhà cung cấp, (iii) bền vững, (iv) phát triển đội ngũ lao động và (v) cải tiến liên tục. Nhóm vấn đề mới đòi hỏi những kỹ năng rất khác với kỹ năng mà nhân sự của MEP đã có, do vậy hãy còn quá sớm để nói về thành công hay thất bại của sự chuyển hướng chiến lược trên đây.
1.2. Cơ cấu tổ chức của MEP
MEP được tổ chức phi tập trung và rất linh hoạt. Kinh phí liên bang được giao cho NIST quản lý, dùng để hỗ trợ cho việc thành lập và vận hành của các trung tâm vùng theo nguyên tắc cạnh tranh có đối ứng và trên cơ sở đánh giá năng lực của cơ quan đối tác địa phương. Trung tâm vùng không hỗ trợ tài chính trực tiếp cho doanh nghiệp mà chỉ cung cấp hỗ trợ kỹ thuật và quản lý. Đội ngũ của các trung tâm là người làm công của trung tâm hoặc đối tác địa phương, không phải là nhân viên của chính quyền liên bang.
Cơ quan đầu não của MEP được đặt tại trụ sở của NIST (NIST - MEP) tại Gaithersbury, Maryland, có chức năng cung cấp định hướng chiến lược, đánh giá và xác nhận các hoạt động của trung tâm MEP. Vai trò của NIST không chỉ đơn thuần là cung cấp vốn đối ứng mà còn là điều phối hệ thống, đánh giá chất lượng của các trung tâm thành viên, tài trợ các dịch vụ chung như đào tạo đội ngũ, trao đổi thông tin, các công cụ, và hỗ trợ các sáng kiến liên vùng, liên quốc gia như quản lý chuỗi cung ứng, sản xuất có ý thức về môi trường hay đào tạo đội ngũ lao động.
Các trung tâm MEP khác nhau về cấu trúc, mô hình kinh doanh và quy mô khu vực, thường hoạt động như một tổ chức phi lợi nhuận độc lập hoặc là một bộ phận gắn với cơ quan mẹ, có thể là đại học, cơ quan nhà nước, trung tâm công nghệ hay các loại cơ quan khác. Hiện tại, có 17 trung tâm gắn với đại học, 4 điều hành bởi chính quyền bang, số còn lại được tổ chức theo mô hình các tổ chức phi lợi nhuận. Mỗi trung tâm MEP thường tuyển dụng đội ngũ thực địa có kinh nghiệm thực tiễn để làm việc trực tiếp với doanh nghiệp nhằm xác định nhu cầu, môi giới các nguồn lực và xây dựng các dự án hỗ trợ phù hợp. Trung tâm đóng vai trò điểm nút liên kết mạng lưới.
Về thiết kế cơ chế, MEP dựa trên cơ chế quan hệ đối tác nhiều bên, nhiều tầng nấc. MEP là quan hệ đối tác giữa chính quyền liên bang, chính quyền các bang, các cơ quan khoa học và các nhóm doanh nghiệp. Ở cấp điều hành trung tâm có quan hệ đối tác với rất nhiều các nhà cung cấp dịch vụ khác, cả công và tư. Dịch vụ của các trung tâm không phải là miễn phí, do vậy hoạt động theo các tín hiệu thị trường, đáp ứng nhu cầu thực của SMEs tại địa phương.
1.3. Khách hàng của MEP
Đa số là DNNVV, sự hưởng ứng, năng lực khách hàng rất khác nhau, có doanh nghiệp chỉ muốn “yên phận”, có doanh nghiệp có “tham vọng” tìm cách phát triển sản phẩm mới và thị trường mới. Đôi khi doanh nghiệp lớn, như Honda và Navistar cũng tham gia để triển khai các sáng kiến chuỗi cung ứng tích hợp nhằm thúc đẩy việc nâng cấp các nhà cung cấp vệ tinh quy mô nhỏ. Giữ cân bằng, hài hòa giữa các đối tượng khác nhau là một nhiệm vụ khó khăn.
1.4. Tài chính của MEP
Ngân sách năm 2012 của MEP là vào khoảng 300 triệu USD, một phần ba do chính phủ liên bang cung cấp, phần còn lại là từ các nguồn của bang và doanh nghiệp. Năm tài chính 2013, phần đóng góp của chính quyền liên bang cho MEP là 123 triệu đô la, trong đó hơn ba phần tư được dùng để cấp kinh phí trực tiếp cho các trung tâm MEP. Tính trung bình, hợp tác tài trợ được đảm bảo 35% từ ngân sách trung ương, 35% từ ngân sách bang, và 30% từ khu vực tư. Doanh nghiệp nhận hỗ trợ chỉ phải trả tối đa 40% chi phí dịch vụ. Chương trình MEP đã hỗ trợ khoảng 25.000 doanh nghiệp trong một năm, và tạo ra doanh thu 280 triệu đô la. Doanh nghiệp được trợ giúp có mức tăng năng suất cao hơn 5,2% so với không nhận trợ giúp (Schactt, 2011).
II. Chương trình trợ giúp nghiên cứu của doanh nghiệp Canada
2.1. Sứ mệnh của chương trình
Chương trình trợ giúp nghiên cứu của doanh nghiệp Canada (Canada’s Industrial Research Assistance Program - IRAP), Ủy ban nghiên cứu quốc gia (NRC) hoạt động từ năm 1962 nhằm cung cấp cho doanh nghiệp công nghiệp những trợ giúp cần thiết (hỗ trợ tài chính, tư vấn kỹ thuật và kinh doanh) để tăng cường hoạt động R&D của doanh nghiệp. Chương trình có hai mục tiêu chiến lược: (i) cung cấp hỗ trợ cho DNNVV để phát triển và thương mại hóa các công nghệ của họ; (ii) hợp tác, cấp kinh phí cho các tổ chức trung ương và địa phương tham gia hỗ trợ doanh nghiệp phát triển và thương mại hóa công nghệ. Trọng tâm của IRAP là thúc đẩy hoạt động R&D của doanh nghiệp và TES là dịch vụ bổ trợ cần thiết để các dự án R&D của doanh nghiệp có thể mang lại những kết quả kỳ vọng.
2.2. Tổ chức và quản trị của IRAP
IRAP có bộ máy khắp Canada, cung cấp dịch vụ phi tập trung thông qua các Cố vấn công nghệ công nghiệp (ITAs). IRAP có 1 Tổng giám đốc và 6 giám đốc điều hành giúp việc, một tại trụ sở chính và 5 người ở 5 vùng của Canada, dưới nữa có các Giám đốc chỉ đạo các ITAs. Giám đốc điều hành vùng được trợ giúp của các Cố vấn mạng lưới đổi mới (Innovation Network Advisors - INAs) và các chuyên gia phân tích kinh doanh (Business Analysts - BAs). Năm 2012 đội ngũ nhân viên thực địa của IRAP có mặt tại 147 văn phòng trong 100 cộng đồng trên khắp Canada, bao gồm các tổ chức và mạng lưới phát triển kinh tế, các hiệp hội ngành nghề, đại học và trường nghề.
2.3. Nguồn lực
NRC-IRAP có ngân sách trung bình 137 triệu đô la mỗi năm (giai đoạn 2008 - 2012), trong đó 89 triệu đô la dành hỗ trợ SMEs[8] và 48 triệu đô la trả lương và chi phí vận hành (34 triệu chi tiền lương). NRC-IRAP còn nhận được các khoản kinh phí không thường xuyên, được giao thêm từ các chương trình khác ứng với những nhiệm vụ bổ sung.
Chi phí tiền lương chiếm tỷ lệ khá cao (26% tổng chi), phản ánh vai trò, chất lượng và kinh nghiệm của đội ngũ ITAs, hạt nhân chủ chốt của IRAP. IRAP cấp khoảng 8% tổng nhân sách cho các tổ chức hỗ trợ SMEs, bao gồm: 29% là các hiệp hội ngành nghề; 24% là các đại học, trường cao đẳng hay các tổ chức giáo dục khác; 16% là các viện nghiên cứu hay trung tâm công nghệ; 9% là các trung tâm kinh doanh; 4% là các cơ quan địa phương; 18% là các loại hình tổ chức khác[9].
Về nhân lực, đến 2011, IRAP có 30 nhân viên quản lý, 236 ITAs, 6 nhà phân tích, 39 RCAOs và 71 nhân viên hỗ trợ hành chính. Trung bình mỗi ITA làm việc trực tiếp với khoảng 42 khách hàng mỗi năm, trong số đó 11 khách hàng nhận được kinh phí hỗ trợ.
2.4. Dịch vụ và cơ chế cung cấp dịch vụ
Dịch vụ của IRAP về cơ bản chia thành 4 nhóm: (i) Hỗ trợ các dự án R&D của doanh nghiệp (tối đa 75% kinh phí dự án và dưới 1 triệu đô la/năm); (ii) Đóng góp không hoàn lại cho các tổ chức (đại học, hiệp hội doanh nghiệp v.v.) cung cấp dịch vụ tư vấn cho SMEs; (iii) Cấp kinh phí để SMEs tuyển dụng những người trẻ mới tốt nghiệp làm việc ngắn hạn (interns) tại SMEs (tối đa 30.000 đô la cho mỗi dự án R&D); (iv) Dịch vụ tư vấn với các nội dung cơ bản của khuyến công nghệ (tư vấn kinh doanh, kế hoạch chiến lược, đánh giá thị trường, thông tin chiến lược, tình báo công nghệ cạnh tranh, tra cứu tài sản trí tuệ, kiểm chuẩn công nghệ (technology validation), thực hiện công nghệ (technology engineering)).
Trong số trên chỉ có dịch vụ tư vấn là thuộc vào phạm trù của khuyến công nghệ. Năm tài chính 2009 - 2010 IRAP đã hỗ trợ cho 2.597 doanh nghiệp, 2.947 dự án và tạo ra khoảng 11.921 việc làm. Khoản hỗ trợ của IRAP được phép chi tới 80% cho nhân lực hoặc 50% chi phí thuê khoán chuyên môn, và ở mức trung bình là 42% tổng chi phí của dự án. Khoản này không được dùng mua sắm tài sản (capital) và các khoản chi phi nhân lực khác. SMEs không phải trả phí dịch vụ tư vấn của ITA, cũng như dịch vụ của các tổ chức đối tác khác, cũng như không có quy định về thời gian tiêu chuẩn cho dịch vụ tư vấn. ITA nhận thù lao hậu hĩnh từ IRAP và cung cấp dịch vụ tư vấn liên tục theo yêu cầu của các doanh nghiệp khách hàng. IRAP dựa vào cộng đồng các đối tác công và tư để cung cấp dịch vụ triển khai thực hiện chuyên sâu, các dịch vụ liên quan tới hạ tầng (nghiên cứu).
2.5. Khách hàng của IRAP
Đối tượng phục vụ của IRAP là các SMEs và có triển vọng đổi mới. Năm tài chính 2009-2010 IRAP đã làm việc với tổng số 8.578 doanh nghiệp (trong tổng số 1,14 triệu doanh nghiệp SMEs của Canada), trong số đó 2.871 (chiếm khoảng 33%) đã nhận tài trợ. 84% khách hàng có số lao động ít hơn 50 người, 67% có lao động ít hơn 20 người, khách hàng trung bình có 32 lao động, tuổi đời 11 năm, thuộc đủ loại ngành nghề và rải khắp cả nước.
IRAP không xác định những ngành hay lĩnh vực ưu tiên, tuy nhiên ngành được trợ giúp nhiều nhất là ICT chiếm 37%, tiếp đến là chế tạo và vật liệu 14%, Y tế và khoa học sự sống 11%, Năng lượng và môi trường 9%, Nông nghiệp và thực phẩm 6%, Xây dựng 6%, Hàng không 1% và các ngành khác 16%. Khách hàng trong lĩnh vực sản xuất nhiều hơn trong lĩnh vực dịch vụ. Thời gian thực hiện một dự án điển hình là 9,5 tháng, ngắn nhất là 2 ngày, dài nhất là 5 năm. Kinh phí hỗ trợ của IRAP cho một dự án trung bình (mean) đạt C$56.000, có 72% khách hàng nhận tài trợ cho duy nhất 1 dự án. IRAP mới chỉ phục vụ được 1/3 cho đến 1/10 thị trường tiềm năng.
III. Mạng lưới Kosetsushi tại Nhật Bản
3.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Hệ thống trung tâm công nghệ địa phương của Nhật bản (Kosetsushi) thành lập vào năm 1902, ban đầu phục vụ các ngành truyền thống (như nông nghiệp, dệt lụa, nghề làm nước tương, nấu rượu sake), tiếp đến do công nghiệp nặng phát triển số lượng Kosetsushi tăng nhanh. Ô nhiếm môi trường do phát triển kinh tế quá nóng trong những năm 1950s và 1960s khiến chính quyền thành lập thêm Kosetsushi về khoa học môi trường. Đến 1980s, Nhật bản bước vào kỉ nguyên tăng trưởng thấp, và đổi mới công nghệ trở thành động lực mới cho tăng trưởng. Kosetsushi phải thích ứng với nhu cầu mới về công nghệ, tư vấn kỹ thuật hướng tới đổi mới của SMEs. Ngoài ra chính sách điều chuyển các hoạt động đổi mới về khu vực nông thôn khiến Kosetsushi tập trung hơn cho định hướng nghiên cứu để trở thành đầu mối địa phương (regional hub) cho hoạt động đổi mới. Từ 1990s đến nay, xu hướng cắt giảm ngân sách của chính quyền địa phương và việc các đại học nhảy vào địa hạt của Kosetsushi do sức ép cải tổ hệ thống đổi mới quốc gia đã buộc Kosetsushi phải xác định lại năng lực cốt lõi cũng như vai trò, vị trí và chức năng của họ trong hệ thống đổi mới vùng.
Hệ quả là ngân sách địa phương dành cho Kosetsushi giảm dần từ mức 0,7% năm 1995 xuống mức 0,6% năm 2000 và 0,49% năm 2013. Số lượng Kosetsushi giảm 648 năm 1990 xuống còn 392 năm 2013, và đến đầu năm 2016 chỉ còn là 319 trung tâm. Kosetsushi đã điều chỉnh để có thêm kinh phí nghiên cứu, từ mức 0,5 triệu Yên trên 1 cán bộ nghiên cứu năm 1990 lên mức 1,4 triệu Yên năm 2010. Kosetsushi đã ăn sâu trong hệ sinh thái địa phương của SME, cung cấp những giải pháp hữu hiệu cho nhu cầu cụ thể, chuyên biệt của SME địa phương, giúp họ phản ứng nhanh trước thay đổi.
3.2. Cơ cấu tổ chức các trung tâm Kosetsushi
Năm 2016 mạng lưới Kosetsushi có 318 trung tâm đầu não (headquater), mỗi trung tâm đầu não có thường có một hoặc một vài chi nhánh. Tính theo số các chi nhánh thì tổng số Kosetsushi là 667 cơ sở, hiện diện tại tất cả các tỉnh và vùng đô thị của Nhật bản. Mỗi trung tâm thường chuyên môn hóa theo ngành/công nghệ, phục vụ SMEs của địa phương. Kosetsushi do chính quyền tỉnh hoặc chính quyền đô thị của Nhật thành lập, quản lý và hoạt động tương đối độc lập. Mỗi tỉnh trong số 47 tỉnh của Nhật đều có ít nhất một Kosetsushi và các chi nhánh. Các trung tâm thường có sự kết nối giữa trung tâm tổng hợp với trung tâm định hướng ngành/công nghệ nhằm nâng cấp các ngành cụ thể.
3.3. Dịch vụ và cơ chế hoạt động
The Shapira (1992) dịch vụ và hoạt động của các trung tâm Kohsetsushi phân thành các nhóm sau đây: (i) Nghiên cứu ứng dụng, bao gồm tiếp nhận các cán bộ nghiên cứu từ SMEs gửi tới để đào tạo; (ii) Phổ biến thông tin, thông qua hội thảo, triển lãm, bản tin và các báo cáo nghiên cứu và thông qua việc duy trì các thư viện kỹ thuật; (iii) Kiểm tra nguyên liệu, thành phẩm theo tiêu chuẩn Nhật và nước ngoài; (iv) Tư vấn và chỉ dẫn, giải quyết các vấn đề kỹ thuật và thực hiện áp dụng các công nghệ mới; (v) Đào tạo và sử dụng phòng thí nghiệm, cho phép doanh nghiệp được sử dụng các thiết bị tiên tiến cho nghiên cứu và phát triển sản phẩm mẫu; (vi) Tài trợ cho các nhóm doanh nghiệp nhỏ gặp gỡ trao đổi thông tin và hợp tác chia sẻ công nghệ và phát triển sản phẩm và thị trường mới. Dịch vụ của Kosetsushi là khá ổn định, tuy gần đây có chú ý hơn tới nhiệm vụ trung gian công nghệ đáp ứng những thay đổi nhanh chóng của STI hiện nay thay vì chỉ chú trọng vào cung cấp các giải pháp công nghệ cho SMEs như trước kia.
Kosetsushi tổ chức hội thảo, dự án hợp tác nghiên cứu, triển lãm công nghiệp, và hỗ trợ kỹ thuật cá nhân cho các SMEs địa phương, tổ chức các nhóm SMEs hợp tác, trao đổi công nghệ, thông tin kỹ thuật, phát triển sản phẩm và công nghệ mới. Nhân viên của Kosetsushi dành một nửa thời gian cho nghiên cứu, chủ yếu là các dự án liên hệ trực tiếp với các ngành công nghiệp trong khu vực. SMEs thường gửi một hoặc hai người tới làm dự án tại Kosetsushi, sau đó chuyển giao công nghệ ngược trở lại cho doanh nghiệp. Kosetsushi được xem như đối tác SMEs trong nghiên cứu, phát triển công nghệ và sản phẩm mới. Kohsetsushi có quan hệ mật thiết với AIST (Viện Khoa học và Công nghệ công nghiệp tiên tiến Nhật Bản) để cập nhật tri thức mới nhất về công nghệ, kết hợp với sự gần gũi, hiểu rõ về SMEs để hỗ trợ SMEs một cách thiết thực và tốt nhất.
3.4. Nguồn lực, khách hàng và kết quả hoạt động
Ngân sách của Kosetsushi chủ yếu do chính quyền địa phương cấp. Kosetsushi cũng thu phí (được trợ giá) từ dịch vụ cung cấp cho SMEs. Hệ thống Kosetsushi có đội ngũ nhân lực lên tới hơn 6000 nhà nghiên cứu và kỹ sư, ngân sách trên 1 tỷ USD, phục vụ hơn 50.000 khách hàng trên cả nước. Trung bình, mỗi nhân viên nghiên cứu có khoản ngân sách nghiên cứu đạt 15,9 triệu Yên năm 2013. Chính quyền địa phương còn tài trợ cho các trung tâm thương mại, trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ khác tại địa phương. Những trung tâm này có thể cung cấp thiết bị thử nghiệm, thiết bị sản xuất vật mẫu (prototyping), tổ chức trình diễn công nghệ sản phẩm, công nghệ quy trình mới. Ngoài ra, các doanh nghiệp SMEs còn được hưởng các ưu đãi, khoản vay và các ưu đãi thuế khác trong quá trình nâng cấp và hấp thụ công nghệ.
Theo kết quả một cuộc khảo sát các trung tâm Kosetsushi giới hạn trong 3 lĩnh vực là chế tạo, thực phẩm và thiết kế thì trung bình mỗi trung tâm có 38 nhân viên, trong đó 30 người là nhân viên kỹ thuật tham gia vào các hoạt động chuyển giao công nghệ; 28,8% có bằng tiến sỹ. Các nhân viên này dành 28,8% thời gian cho nghiên cứu, 25,5% để tư vấn kỹ thuật, và 34,4% cho các loại hỗ trợ kỹ thuật khác. Tính trung bình cho cả năm, mỗi nhân viên kỹ thuật tham gia giải đáp/tư vấn cho khoảng 126 vấn đề khách hàng yêu cầu và mỗi khách hàng có 4,6 yêu cầu, và chủ yếu là khách hàng thường xuyên (92,4%). Một số trung tâm cho biết khách hàng chủ yếu là doanh nghiệp, nhưng cũng có những trung tâm có tới 90% khách hàng là các cá nhân, chủ yếu trong các ngành thủ công truyền thống, gốm sứ, dệt truyền thống và các sản phẩm nông nghiệp. Có 83% khách hàng là trong cùng địa phương, 17,4% khách hàng là lần đầu tiên tìm đến trung tâm (Fukugawa & Goto, 2016).
3.5. Sức ép thay đổi và những điều chỉnh chiến lược
Hệ thống Kosetsushi đã và vẫn đang khẳng định được vai trò và sứ mệnh trong suốt công cuộc công nghiệp hóa của Nhật Bản, tuy nhiên sự quan tâm ngày càng tăng đối với sự phát triển các dạng công nghệ mới và giải quyết các vấn đề chuyển đổi cơ cấu công nghiệp vùng và việc phân phối của các doanh nghiệp thâm dụng công nghệ ở Nhật đã dẫn tới sự xuất hiện của các chương trình và trung tâm bổ sung. Nhật Bản ngày nay cũng chú trọng nhiều hơn vào các doanh nghiệp có tiềm năng tăng trưởng, vào start-up. Kosetsushi phải thay đổi, bổ sung thêm năng lực phát triển công nghệ mới. Kosetsushi cũng không còn là những hình thức duy nhất của các dịch vụ khuyến công nghệ tại Nhật bản mà còn các chương trình và trung tâm bổ sung khác.
IV. Chương trình hỗ trợ công nghệ công nghiệp của Thái lan
4.1. Hình thành và phát triển
Năm 1992, Cơ quan phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (NSTDAP) của Thái lan thực hiện dự án thử nghiệm “Dịch vụ tư vấn công nghiệp” (Industrial Consultancy Services - ICS), học theo mô hình IRAP của Canada, với nhiệm vụ cung cấp cho doanh nghiệp những tri thức và kỹ năng công nghệ, kết nối doanh nghiệp với những nguồn cung tri thức, kể cả nguồn nước ngoài, hỗ trợ R&D, tổ chức đào tạo và tài trợ các dự án (R&D) của doanh nghiệp. ICS được thiết kế dựa trên triết lý “theo nhu cầu” và “chia sẻ trách nhiệm”, doanh nghiệp phải trả ít nhất 25% chi phí cho chuyên gia kỹ thuật cung cấp dịch vụ hỗ trợ, nhà nước chi trả 75% chi phí còn lại (nhưng không vượt quá 500.000 baht). Trong 9 năm thử nghiệm, ICS đã cung cấp tư vấn kỹ thuật cho 176 doanh nghiệp trong số 3.460 doanh nghiệp đã nộp đơn. Nhiều doanh nghiệp đã nâng cấp sản phẩm và/hoặc quy trình hay tạo ra sản phẩm và/hoặc quy trình mới. Chính phủ Thái lan sau đó nâng cấp dự án thành Chương trình hỗ trợ công nghệ công nghiệp (ITAP).
4.2. Tổ chức, dịch vụ và hoạt động của ITAP
ITAP trực thuộc Trung tâm Quản lý Công nghệ (TMC) của NSTDA. Đến 2012, ITAP có 10 đầu mối vùng đặt tại các đại học và công viên khoa học ở Thái lan, hỗ trợ tổng cộng hơn 3.000 doanh nghiệp với tổng kinh phí khoảng 60 triệu đô la Mỹ. Số doanh nghiệp được thụ hưởng tăng dần từng năm, đạt 883 doanh nghiệp vào năm 2011 (UNCTAD, 2015). ITAP có gần 30 nhân viên tại trụ sở chỉnh và hơn 200 nhân viên trong cả mạng lưới. Mạng lưới của ITAP chủ yếu đặt tại các đại học, công viên khoa học, mỗi đầu mối phục vụ một vùng địa lý xác định. Đại học Công nghệ King Mongkut Thonburi (KMUTT) là mạng lưới địa phương lớn nhất chịu trách nhiệm cho khu vực phía Tây. Mạng ITAP KMUTT đã nhận được liên lạc từ 300 công ty, cung cấp phân tích vấn đề kỹ thuật cho 260 công ty và phát triển dự án tư vấn cho 157 dự án.
ITAP có nhiệm vụ: (i) khuyến khích và củng cố sự cạnh tranh dựa trên sáng tạo của ngành đặc biệt cho SMEs và các cụm trong lĩnh vực công nghiệp; (ii) hỗ trợ chuyển giao công nghệ cả từ “thị trường vào phòng thí nghiệm” và “phòng thí nghiệm ra thị trường”; (iii) hoạt động như là một mạng lưới quốc gia với đội ngũ nhân viên có trình độ, có kiến thức và giàu kinh nghiệm.
ITAP tiến hành chuẩn đoán các vấn đề và nhu cầu của doanh nghiệp, cung cấp tư vấn chuyên sâu, và hỗ trợ doanh nghiệp thu nạp công nghệ, hợp tác kinh doanh, thúc đẩy liên kết và mạng lưới, tư vấn, nghiên cứu khả thi, dịch vụ thông tin, tổ chức các hội nghị/hội thảo, các cuộc gặp gỡ/tấn công não, phân tích nhu cầu công nghiệp. ITAP hoạt động dựa vào những nhà tư vấn công nghệ (ITAs) trong và ngoài nước, được tuyển dụng (thuê khoán) để tương tác với các doanh nghiệp, giúp họ phát triển năng lực công nghệ. ITA hỗ trợ doanh nghiệp xác định các vấn đề, tìm kiếm và lựa chọn giải pháp công nghệ phù hợp, hướng dẫn áp dụng công nghệ. Một khi nhu cầu phát triển công nghệ từ doanh nghiệp được xác định, ITAP hành động như một đối tác trung gian thiết lập liên kết giữa chuyên gia kỹ thuật và các chủ doanh nghiệp. Cách làm này kết nối một nhu cầu cụ thể với giải pháp cụ thể của một vấn đề.
ITAP định hướng vào một loạt ngành công nghệ chủ chốt của Thái lan với các dịch vụ có mức độ thâm dụng tri thức khác nhau. Ở mức cơ bản có các ngành như dệt, công nghiệp nông sản và thực phẩm; ở mức trung bình có các ngành như đồ gỗ và nội thất, ô tô (nhựa, kim khí, cao su, hóa chất); ở mức cao hơn có các ngành như năng lượng & môi trường, phần mềm, y dược.
4.3. Một số kết quả của ITAP trong giai đoạn 2006-2010
Supattaraprateep (2010) đưa ra thống kê đến 31 tháng 3 năm 2010, ITAP đã tiếp cận khoảng 15.000 doanh nghiệp SME; thực hiện phân tích sơ bộ 3.687 doanh nghiệp; xây dựng 2.377 dự án công nghệ; hỗ trợ 986 doanh nghiệp thu nạp công nghệ; thực hiện 585 khóa đào tạo/hội thảo với 22.273 lượt người tham gia. Mặc dù ngày càng có nhiều doanh nghiệp SMEs tiến hành các dự án với ITAP mỗi năm nhưng số doanh nghiệp này chỉ chiếm một phần rất nhỏ trên tổng số doanh nghiệp SMEs của Thái lan (ước tính khoảng 2.9 triệu DN).
Trong giai đoạn 2006-2010, ngân sách của ITAP cũng liên tục tăng, từ 70 triệu baht năm 2006, lên 114 triệu baht năm 2007, 128 triệu baht năm 2008 và 139 triệu baht năm 2009. Số lượng nhân viên của ITAP cũng tăng dần từ 52 người năm 2006 lên đến 93 người năm 2009 và 95 người vào năm 2010. Số dự án được hỗ trợ nhiều nhất thuộc ngành lương thượng và nông nghiệp. Đứng thứ hai là đồ gỗ và nội thất. Sức khỏe là ngành công nghiệp thâm dụng công nghệ có số dự án được hỗ trợ đứng thứ ba.
Phân chia theo 5 loại dự án được hỗ trợ (máy móc, tiêu chuẩn, quy trình, sản phẩm và loại khác), ITAP hỗ trợ được 671 dự án phát triển sản phẩm, 481 dựa án về quy trình, 285 dự án về tiêu chuẩn, 113 dự án máy móc và 222 dự án khác. Phân theo khu vực thì SMEs tại các đô thị chiếm số lượng áp đảo với 816 doanh nghiệp, chiếm khoảng 50% số doanh nghiệp được phục vụ. Khoản đầu tư cho các dự án bao gồm cả đầu tư của doanh nghiệp và hỗ trợ của ITAP, theo đó doanh nghiệp đã đầu tư khoảng 844.3 triệu Baht đối ứng với khoản hỗ trợ 309.5 triệu Baht của ITAP.
KINH NGHIỆM TRUNG TÂM ĐỔI MỚI SÁNG TẠO ĐỊNH HƯỚNG CÔNG NGHỆ MỚI
I. Mạng lưới các viện Fraunhofer của Đức
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
Thành lập (1949): Fraunhofer-Gesellschaft được thành lập tại Munich (Tây Đức cũ) vào năm 1949, chỉ 4 năm sau khi Thế chiến II kết thúc. Tên của tổ chức được đặt theo Joseph von Fraunhofer (1787-1826), một nhà vật lý, nhà quang học và nhà sáng chế xuất sắc.
Mục tiêu ban đầu: Sứ mệnh ban đầu là hỗ trợ tái thiết ngành công nghiệp Đức thời hậu chiến. Trong bối cảnh các trường đại học chỉ tập trung vào nghiên cứu cơ bản và các công ty cần giải pháp công nghệ ngay lập tức, Fraunhofer được tạo ra để trở thành cầu nối lấp đầy khoảng trống đó.
Phát triển: Từ một tổ chức nhỏ chỉ có vài nhân viên, Fraunhofer đã phát triển thành tổ chức nghiên cứu ứng dụng lớn nhất châu Âu. Một trong những thành tựu nổi tiếng nhất của họ là phát minh ra định dạng âm thanh MP3 tại Viện Mạch tích hợp (Fraunhofer IIS). Ngày nay, họ có 76 viện và đơn vị nghiên cứu trên khắp nước Đức và các chi nhánh quốc tế.
1.2. Cơ cấu tổ chức
Hình thức pháp lý: Fraunhofer-Gesellschaft là một hiệp hội phi lợi nhuận ("Gesellschaft" nghĩa là hiệp hội/công ty). Trụ sở chính đặt tại Munich, đóng vai trò điều phối chiến lược, hành chính và pháp lý.
Cấu trúc phi tập trung (Decentralized): Sức mạnh thực sự của Fraunhofer nằm ở các viện (Institutes) thành viên.
- Các Viện chuyên ngành: Có hơn 76 viện Fraunhofer, mỗi viện chuyên sâu về một lĩnh vực công nghệ cụ thể (ví dụ: Viện Năng lượng mặt trời, Viện Công nghệ Laser, Viện Phần mềm...).
- Liên kết Đại học (Mô hình "Personal Union"): Một cơ chế then chốt là giám đốc của một viện Fraunhofer thường đồng thời là một giáo sư tại một trường đại học kỹ thuật (TU) lân cận. Điều này tạo ra một dòng chảy nhân tài, ý tưởng nghiên cứu cơ bản, và cơ sở hạ tầng (sinh viên, phòng lab) gần như liền mạch giữa hai tổ chức.
1.3. Khách hàng của Fraunhofer
Khách hàng của Fraunhofer rất đa dạng, nhưng có thể chia thành ba nhóm chính:
(1) Doanh nghiệp Tư nhân (Industry): Đây là nhóm khách hàng cốt lõi.
- Doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs): Đây là mục tiêu quan trọng nhất. Các SMEs (Mittelstand) là xương sống của kinh tế Đức nhưng thường không đủ nguồn lực để duy trì bộ phận R&D lớn. Fraunhofer đóng vai trò như "bộ phận R&D thuê ngoài" cho họ.
- Tập đoàn lớn: Các công ty lớn (như Bosch, Siemens, BMW) cũng hợp tác trong các dự án quy mô lớn và mang tính chiến lược.
(2) Chính phủ và Khu vực công (Public Sector): Các hợp đồng nghiên cứu từ chính phủ Liên bang Đức, chính quyền các bang (Lander), và Liên minh Châu Âu (EU). Các dự án này thường giải quyết các thách thức xã hội lớn (an ninh, y tế, môi trường).
(3) Các tổ chức khác: Hợp tác với các tổ chức nghiên cứu, hiệp hội ngành nghề.
1.4. Tài chính (Mô hình "Tam giác" Fraunhofer)
Đây là đặc điểm nổi tiếng và độc đáo nhất, quyết định sự thành công của mô hình:
Mô hình tài chính của Fraunhofer dựa trên ba trụ cột (tỷ lệ có thể thay đổi một chút):
~1/3: Tài trợ cơ sở (Base Funding): Nguồn ngân sách "cứng" từ chính phủ Liên bang (90%) và chính quyền bang (10%). Nguồn này dùng để duy trì cơ sở vật chất, nhân sự nòng cốt và thực hiện các nghiên cứu mang tính định hướng, dài hạn.
~1/3: Hợp đồng nghiên cứu công (Public Contracts): Nguồn thu từ việc thắng thầu các dự án nghiên cứu cạnh tranh do chính phủ hoặc EU tài trợ.
~1/3: Hợp đồng nghiên cứu tư (Private Contracts): Nguồn thu trực tiếp từ các hợp đồng R&D với doanh nghiệp.
Cơ chế khuyến khích then chốt: Nguồn Tài trợ cơ sở (số 1) không phải là cố định. Nó được điều chỉnh dựa trên hiệu suất của viện, đặc biệt là khả năng thu hút Hợp đồng tư (số 3). Một viện càng thành công trong việc thương mại hóa và kiếm tiền từ ngành công nghiệp, thì càng nhận được nhiều tài trợ cơ sở. Điều này tạo ra một động lực cực lớn, buộc các nhà khoa học phải suy nghĩ về tính ứng dụng và thị trường.
1.5. Các dịch vụ và cơ chế hoạt động
Dịch vụ chính:
- R&D theo hợp đồng (Contract R&D): Doanh nghiệp đến đặt hàng "Giải quyết cho tôi vấn đề công nghệ này", Fraunhofer nghiên cứu và giao giải pháp.
- Nghiên cứu chung (Collaborative Research): Tập hợp nhiều công ty và đối tác để giải quyết một vấn đề chung của ngành.
- Chuyển giao bằng sáng chế (Licensing): Cấp phép (license) các công nghệ và bằng sáng chế mà họ đã phát triển.
- Doanh nghiệp Spin-off: Khuyến khích và hỗ trợ các nhà nghiên cứu tự thành lập công ty (startup) để thương mại hóa công nghệ của viện.
- Tư vấn và Đào tạo: Cung cấp các khóa đào tạo kỹ thuật chuyên sâu và dịch vụ tư vấn chiến lược công nghệ.
Cơ chế hoạt động (Cầu nối): Fraunhofer hoạt động ở "thung lũng tử thần" (Valley of Death) của đổi mới sáng tạo. Họ nhận các kết quả nghiên cứu cơ bản (Basic Research) từ các trường đại học (nhờ mô hình liên kết giáo sư) và phát triển ứng dụng chúng (Applied Research) đến mức sẵn sàng cho thị trường (prototype, quy trình công nghệ). Doanh nghiệp sau đó có thể tiếp nhận và thương mại hóa, giảm thiểu rủi ro R&D cho họ.
Mô hình này là một hình mẫu tuyệt vời về việc nhà nước đầu tư thông minh, tạo ra một cơ chế tự cân bằng, khuyến khích các nhà khoa học hướng đến thị trường và hỗ trợ trực tiếp cho sức cạnh tranh của nền kinh tế.
II. Mạng lưới trung tâm công nghệ và đổi mới sáng tạo Catapults của Vương quốc Anh
2.1. Lịch sử hình thành và phát triển
Khởi xướng (2010): Mô hình Catapult là một sáng kiến chính sách tương đối mới. Nó ra đời từ một báo cáo năm 2010 của doanh nhân và nhà đầu tư mạo hiểm Tiến sĩ Hermann Hauser. Báo cáo này chỉ ra rằng nước Anh rất mạnh về nghiên cứu cơ bản (tại các trường đại học) nhưng lại yếu trong việc thương mại hóa các nghiên cứu đó (khoảng trống "thung lũng tử thần").
Thành lập (2011): Dựa trên khuyến nghị của Hauser, chính phủ Anh đã thành lập các "Trung tâm Catapult" đầu tiên vào năm 2011, do tổ chức Innovate UK (hiện là một phần của UK Research and Innovation - UKRI) giám sát.
Mục tiêu: Mô hình này được thiết kế rõ ràng để trở thành cầu nối giữa doanh nghiệp, học thuật và chính phủ, giúp các công ty (đặc biệt là SMEs) tiếp cận công nghệ và cơ sở hạ tầng R&D đắt tiền để đổi mới và tăng trưởng.
2.2. Cơ cấu tổ chức
Mạng lưới phi tập trung: Catapult không phải là một tổ chức đơn lẻ, mà là một mạng lưới gồm 9 trung tâm (Network). Mỗi trung tâm là một tổ chức pháp lý độc lập, phi lợi nhuận.
Chuyên môn hóa: Mỗi trung tâm tập trung vào một lĩnh vực công nghệ hoặc một ngành công nghiệp cụ thể mà Vương quốc Anh có thế mạnh và tiềm năng tăng trưởng (ví dụ: Catapult Sản xuất Giá trị cao, Catapult Ứng dụng Vệ tinh, Catapult Trị liệu Tế bào và Gen, Catapult Kỹ thuật số...).
Vai trò của Innovate UK: Innovate UK là cơ quan tài trợ và giám sát chính của chính phủ. Họ cung cấp nguồn vốn cốt lõi và đảm bảo các trung tâm hoạt động đúng theo chiến lược quốc gia, nhưng không can thiệp vào vận hành hàng ngày.
Khác biệt với Fraunhofer: Không giống như Fraunhofer, giám đốc các trung tâm Catapult thường là các nhà quản lý công nghiệp hoặc công nghệ, chứ không bắt buộc phải là giáo sư tại một trường đại học lân cận.
2.3. Khách hàng của Catapult
Giống như Fraunhofer, khách hàng của Catapult là sự kết hợp của nhiều bên trong hệ sinh thái:
Doanh nghiệp Tư nhân: Đây là đối tượng trọng tâm.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs): Ưu tiên hàng đầu. Catapult giúp SMEs tiếp cận các cơ sở vật chất, chuyên gia và công nghệ mà họ không thể tự đầu tư.
Tập đoàn lớn: Hợp tác trong các dự án R&D lớn, mang tính chiến lược và định hình ngành.
Giới học thuật (Academia): Các trường đại học và viện nghiên cứu hợp tác với Catapult để đưa các kết quả R&D cơ bản của họ đến gần hơn với thị trường.
Chính phủ (Public Sector): Hợp tác trong các dự án giải quyết các thách thức xã hội hoặc các nhiệm vụ quốc gia (ví dụ: Net Zero, y tế công cộng).
2.4. Tài chính (Mô hình "Ba phần")
Mô hình tài chính của Catapult cũng dựa trên nguyên tắc cân bằng, thường được gọi là mô hình "một phần ba" (thirds model) để đảm bảo tính độc lập và định hướng thị trường:
~1/3: Tài trợ lõi (Core Grant): Nguồn ngân sách "cứng" từ chính phủ (thông qua Innovate UK). Nguồn này dùng để đầu tư vào cơ sở hạ tầng R&D quy mô lớn, xây dựng năng lực cốt lõi và các dự án dài hạn.
~1/3: Hợp đồng nghiên cứu Cạnh tranh (Collaborative R&D): Nguồn thu từ việc tham gia (hoặc chủ trì) các dự án R&D có tính cạnh tranh, thường được đồng tài trợ bởi chính phủ và tư nhân.
~1/3: Hợp đồng thương mại (Commercial Contracts): Nguồn thu trực tiếp từ các hợp đồng R&D và dịch vụ kỹ thuật do doanh nghiệp tư nhân chi trả.
Sự cân bằng này buộc các trung tâm Catapult vừa phải duy trì năng lực khoa học xuất sắc (để nhận tài trợ lõi) vừa phải chứng minh được giá trị thực tế của mình với thị trường (để kiếm được hợp đồng thương mại).
2.5. Các dịch vụ và cơ chế hoạt động
Dịch vụ chính:
Tiếp cận cơ sở hạ tầng: Cung cấp quyền truy cập vào các phòng thí nghiệm, thiết bị mô phỏng, dây chuyền sản xuất thử nghiệm (pilot lines) trị giá hàng triệu bảng Anh.
R&D theo hợp đồng: Thực hiện các dự án R&D ứng dụng cho doanh nghiệp.
Dự án cộng tác: Tạo môi trường để các công ty (kể cả đối thủ cạnh tranh), nhà khoa học và chính phủ cùng nhau giải quyết các thách thức chung của ngành.
Hỗ trợ Spin-off/Startup: Giúp các startup tiếp cận công nghệ và chuyên gia để phát triển sản phẩm.
Phát triển kỹ năng: Cung cấp các chương trình đào tạo chuyên sâu về công nghệ mới.
Cơ chế hoạt động: Cơ chế của Catapult là "giảm rủi ro" (de-risking) cho đổi mới sáng tạo. Họ giúp các công ty thử nghiệm và phát triển các công nghệ mới ở giai đoạn "tiền thương mại hóa", chứng minh tính khả thi của chúng trước khi doanh nghiệp phải bỏ ra những khoản đầu tư khổng lồ. Họ là cầu nối vật lý, nơi các ý tưởng từ trường đại học và các vấn đề từ ngành công nghiệp gặp nhau để tạo ra sản phẩm.
Tóm lại, nếu Fraunhofer là một mô hình "giáo sư-doanh nhân" lâu đời, thì Catapult là một mô hình "công nghiệp-chính sách" trẻ trung hơn, được thiết kế có chủ đích để giải quyết các vấn đề cụ thể của nền kinh tế Anh.
III. Viện nghiên cứu công nghệ công nghiệp Đài Loan
Chắc chắn rồi. Viện Nghiên cứu Công nghệ Công nghiệp Đài Loan (ITRI) là một trong những mô hình thành công nhất và thường được nghiên cứu song song với Fraunhofer.
3.1. Lịch sử hình thành và phát triển
Thành lập (1973): ITRI được thành lập vào năm 1973 bởi Chính phủ Đài Loan (thông qua Bộ Kinh tế). Bối cảnh khi đó là Đài Loan cần cấp bách chuyển đổi nền kinh tế từ lao động thâm dụng sang công nghệ cao.
Sứ mệnh ban đầu: Các doanh nghiệp Đài Loan lúc bấy giờ hầu hết là doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs), hoàn toàn không có khả năng tự R&D. Sứ mệnh của ITRI là trở thành một "tổ chức trung gian", nhập khẩu, "tiêu hóa" và địa phương hóa các công nghệ tiên tiến từ nước ngoài (như Mỹ, Nhật), sau đó chuyển giao và phổ biến chúng cho ngành công nghiệp trong nước.
Phát triển và Tác động: ITRI là "kiến trúc sư trưởng" của kỳ tích công nghệ Đài Loan. Thành tựu vĩ đại nhất của họ là phát triển và sau đó "Spin-off" (tách ra) các công ty đã trở thành trụ cột toàn cầu. Nổi tiếng nhất là việc thành lập UMC (1980) và đặc biệt là TSMC (Công ty Sản xuất Bán dẫn Đài Loan) vào năm 1987. Cả hai công ty này đều bắt nguồn từ các dự án R&D và đội ngũ nhân sự của ITRI.
3.2. Cơ cấu tổ chức
Hình thức pháp lý: ITRI là một tổ chức R&D phi lợi nhuận. Mặc dù được Bộ Kinh tế tài trợ, nó hoạt động như một pháp nhân độc lập, cho phép sự linh hoạt rất cao (giống mô hình Viện tự chủ).
Cơ cấu chuyên sâu: Tương tự Fraunhofer, ITRI được tổ chức thành các Phòng thí nghiệm và Trung tâm (Labs/Centers) chuyên biệt. Hiện có 6 phòng thí nghiệm cốt lõi (ví dụ: Điện tử và Quang điện tử, Công nghệ Xanh và Môi trường, Công nghệ Y sinh...) và các trung tâm hỗ trợ.
Quy mô: ITRI là một tổ chức khổng lồ, với hơn 6.000 nhân viên (phần lớn là kỹ sư và nhà khoa học) làm việc tại một khuôn viên rộng lớn ở Tân Trúc (Hsinchu), ngay cạnh Công viên Khoa học Tân Trúc (nơi được mệnh danh là "Thung lũng Silicon của Đài Loan").
3.3. Khách hàng của ITRI
- Doanh nghiệp SMEs (Cốt lõi): Đây là khách hàng truyền thống và quan trọng nhất. ITRI đóng vai trò là "bộ phận R&D thuê ngoài" cho hàng nghìn công ty điện tử, cơ khí... nhỏ của Đài Loan.
- Các tập đoàn lớn: ITRI hợp tác với các "cựu spin-off" của mình (như TSMC, UMC) và các tập đoàn lớn khác trong các dự án R&D thế hệ tiếp theo.
- Chính phủ (Bộ Kinh tế): ITRI là công cụ triển khai chính sách công nghiệp quốc gia. Chính phủ đặt hàng ITRI thực hiện các dự án R&D chiến lược, mang tính rủi ro cao mà tư nhân chưa làm.
- Các công ty quốc tế: Hợp tác R&D với các tập đoàn công nghệ toàn cầu.
3.4. Tài chính (Mô hình 50/50)
Mô hình tài chính của ITRI cũng là một cơ chế cân bằng thông minh:
~50%: Tài trợ từ Chính phủ: Nguồn này đến từ Bộ Kinh tế và các cơ quan khác, dưới dạng ngân sách "cứng" (core funding) và các dự án R&D chiến lược quốc gia. Nguồn này đảm bảo ITRI theo đuổi các mục tiêu dài hạn, rủi ro cao của quốc gia.
~50%: Hợp đồng từ ngành công nghiệp: Nguồn này đến từ R&D theo hợp đồng, cấp phép (licensing) bằng sáng chế, và các dịch vụ kỹ thuật. Nguồn này buộc ITRI phải luôn bám sát nhu cầu thực tế của thị trường và tạo ra giá trị cho doanh nghiệp.
3.5. Các dịch vụ và cơ chế hoạt động
Dịch vụ chính:
- R&D theo hợp đồng: Dịch vụ cơ bản nhất.
- Chuyển giao công nghệ (Tech Transfer): Cấp phép IP cho các công ty (đặc biệt là SMEs) để họ sản xuất.
- Tư vấn chiến lược công nghệ: Giúp các công ty định hình lộ trình công nghệ.
- Thử nghiệm và Chứng nhận: Cung cấp các dịch vụ đo lường, kiểm định tiêu chuẩn.
Cơ chế hoạt động (Signature Move): Spin-off & Venture Building
Đây là cơ chế làm nên tên tuổi của ITRI và là điểm khác biệt lớn nhất:
- Nhận nhiệm vụ quốc gia: Chính phủ xác định một ngành chiến lược (ví dụ: vi mạch).
- Thành lập nhóm đặc nhiệm: ITRI tập hợp các kỹ sư giỏi nhất, cử người đi Mỹ (ví dụ: Trung tâm RCA) để học và mua công nghệ lõi.
- "Tiêu hóa" và Cải tiến: Họ mang công nghệ về, vận hành thử nghiệm, cải tiến và làm chủ hoàn toàn quy trình.
- Tách ra (Spin-off): Khi công nghệ đã chín muồi và thị trường đã sẵn sàng, ITRI (cùng với sự hỗ trợ vốn từ chính phủ và tư nhân) sẽ tách toàn bộ nhóm dự án đó (nhân sự, IP, thiết bị) thành một công ty hoàn toàn mới (như TSMC).
Tóm lại, nếu Fraunhofer là mô hình “cầu nối” R&D, thì ITRI là mô hình “vườn ươm công nghiệp” hay “kiến tạo doanh nghiệp” (Venture Builder) ở cấp độ quốc gia. ITRI không chỉ chuyển giao công nghệ, họ tạo ra cả những ngành công nghiệp mới.
MỘT SỐ MÔ HÌNH TRUNG TÂM HỖ TRỢ
KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO KHÁC
Hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo (khởi nghiệp sáng tạo) thế giới hiện có một số mô hình hỗ trợ cho khởi nghiệp sáng tạo như sau: (1) Vườn ươm Doanh nghiệp (Incubator) tập trung "nuôi dưỡng" các startup giai đoạn ý tưởng trong thời gian dài (1-3 năm) với chi phí thấp, cung cấp không gian và cố vấn cơ bản, như SETsquared (Anh). (2) Tổ chức Tăng tốc (Accelerator) hoạt động ngắn hạn (3-6 tháng) và cường độ cao, cung cấp vốn mồi đổi lấy cổ phần để "tăng tốc" các startup đã có sản phẩm, với ví dụ kinh điển là Y Combinator (Mỹ). (3) Mô hình Tổ chức Kiến tạo (Venture Builder), vốn hoạt động như một "nhà máy" tự phát triển ý tưởng nội bộ, đóng vai trò đồng sáng lập và nắm cổ phần chi phối, như Rocket Internet (Đức). (4) Trung tâm Đổi mới sáng tạo (Innovation Hub) là một "thực thể điều phối" hệ sinh thái, kết nối đa bên (trường, doanh nghiệp, chính phủ) tại một địa điểm tập trung, điển hình là Station F (Pháp). (5) Phòng Lab của Tập đoàn (Corporate Lab) là biểu hiện của "đổi mới sáng tạo mở", giúp các tập đoàn lớn khám phá công nghệ đột phá, hoặc qua dự án nội bộ (như X của Google) hoặc hợp tác với startup bên ngoài.
I. Vườn ươm Doanh nghiệp (Business Incubator)
Vườn ươm doanh nghiệp (Business Incubators - BIs) được công nhận rộng rãi trong văn liệu học thuật (academic literature) như một cơ chế can thiệp quan trọng ở giai đoạn đầu của hệ sinh thái khởi nghiệp. Các học giả (ví dụ: Lalkaka, 2006; Aernoudt, 2004) định nghĩa chúng là các tổ chức cung cấp một môi trường được bảo vệ, cung cấp các nguồn lực dùng chung bao gồm không gian làm việc, dịch vụ hành chính, và tư vấn quản trị cơ bản. Mục tiêu cốt lõi của vườn ươm là giảm thiểu rủi ro và tăng tỷ lệ sống sót (survival rate) cho các công ty mới thành lập (startups) ở giai đoạn ý tưởng hoặc sơ khai. Khác với các tổ chức tăng tốc, chương trình ươm tạo thường có thời gian kéo dài (từ một đến ba năm), linh hoạt và không nhất thiết cung cấp vốn đầu tư trực tiếp, mà tập trung vào việc "nuôi dưỡng" và xây dựng năng lực nền tảng cho doanh nghiệp non trẻ.
1871 (Chicago, Mỹ): Là một trong những vườn ươm phi lợi nhuận hàng đầu, tập trung vào công nghệ số và kỹ thuật số. 1871 cung cấp không gian làm việc, cố vấn, và một mạng lưới đối tác khổng lồ (gồm các trường đại học và tập đoàn) để nuôi dưỡng các công ty ở giai đoạn rất sớm.
SETsquared (Vương quốc Anh): Là một liên minh gồm 5 trường đại học nghiên cứu hàng đầu của Anh. Mô hình này nổi bật với việc ươm tạo các công ty "công nghệ sâu" (deep tech) và R&D, tận dụng tối đa nguồn lực nghiên cứu từ các trường đại học.
DMZ (Toronto, Canada): Trực thuộc Đại học Ryerson, DMZ là một trong những vườn ươm liên kết với trường đại học hàng đầu thế giới. Họ cung cấp các chương trình ươm tạo dài hạn, tập trung giúp startup xây dựng nền tảng vững chắc trước khi tăng tốc.
II. Tổ chức Tăng tốc Khởi nghiệp (Accelerator)
Các tổ chức tăng tốc khởi nghiệp (Accelerators) là một hiện tượng tương đối mới, thu hút sự chú ý đáng kể của giới nghiên cứu và được xem là một "biến thể" có định hướng thị trường rõ rệt hơn của vườn ươm. Cohen và Hochberg (2014) định nghĩa chúng là các chương trình có thời gian cố định (fixed-term, thường là 3-6 tháng), hoạt động theo mô hình lớp (cohort-based), cung cấp vốn hạt giống (seed funding) để đổi lấy một tỷ lệ cổ phần (equity). Văn liệu chỉ ra rằng giá trị cốt lõi của accelerators nằm ở việc giáo dục khởi nghiệp cường độ cao, hoạt động cố vấn (mentoring) chuyên sâu từ các chuyên gia trong ngành, và khả năng kết nối mạng lưới (networking) ưu việt, thường đỉnh điểm bằng một sự kiện "Demo Day" để trình bày trước các nhà đầu tư mạo hiểm (VCs). Mục tiêu của chúng không phải là "nuôi dưỡng" mà là "tăng tốc" quá trình tìm kiếm sự phù hợp của sản phẩm với thị trường (product-market fit) và chuẩn bị cho vòng gọi vốn tiếp theo.
Y Combinator (Mỹ): Đây là ví dụ "kinh điển" và thành công nhất. YC nổi tiếng với chương trình 3 tháng cường độ cao, đầu tư vốn mồi (seed funding) 125.000 USD đổi lấy 7% cổ phần (mô hình chuẩn trước đây). Họ là bệ phóng của các "kỳ lân" như Airbnb, Dropbox, Stripe, và Reddit.
Techstars (Mỹ, Toàn cầu): Hoạt động với mô hình tương tự YC nhưng có mạng lưới toàn cầu rộng lớn, thường hợp tác với các tập đoàn lớn để tổ chức các chương trình tăng tốc chuyên ngành (ví dụ: Techstars Bán lẻ, Techstars Fintech).
500 Global (Mỹ, Toàn cầu): (Trước đây là 500 Startups) Nổi tiếng với việc đầu tư vào một số lượng lớn các startup trên toàn thế giới, bao gồm cả Việt Nam. Chương trình của họ tập trung mạnh vào huấn luyện về marketing tăng trưởng (growth hacking) và bán hàng.
III. Tổ chức Kiến tạo Khởi nghiệp (Venture Builder / Startup Studio)
Mô hình Tổ chức Kiến tạo (Venture Builder - VB), hay còn gọi là Startup Studio, đại diện cho một phương thức can thiệp hệ thống hơn vào quá trình hình thành doanh nghiệp. Không giống như vườn ươm hay tăng tốc vốn tuyển chọn các startup từ bên ngoài, các VB chủ động xác định cơ hội thị trường, phát triển ý tưởng từ nội bộ, và sau đó xây dựng công ty xung quanh ý tưởng đó. Các nghiên cứu (ví dụ: Kohler, 2016) mô tả VB như một "nhà máy startup" (startup factory), nơi cung cấp một cơ sở hạ tầng nguồn lực chia sẻ (vốn, công nghệ, pháp lý, nhân sự) và đóng vai trò tích cực như một đồng sáng lập (co-founder). Do mức độ tham gia sâu và cung cấp nguồn lực ban đầu toàn diện, các VB thường nắm giữ một tỷ lệ cổ phần chi phối (significant equity stake) và tham gia vận hành dài hạn cho đến khi startup đạt được sự trưởng thành nhất định.
Idealab (Mỹ): Được thành lập bởi Bill Gross, đây là một trong những venture builder tiên phong và lâu đời nhất (từ 1996). Idealab tự phát triển ý tưởng nội bộ, thử nghiệm nhanh, sau đó xây dựng đội ngũ và thành lập công ty riêng cho các ý tưởng thành công.
Rocket Internet (Đức): Nổi tiếng (và đôi khi gây tranh cãi) với mô hình "nhân bản" các mô hình kinh doanh thành công (như Amazon, Zappos) và triển khai cực kỳ nhanh tại các thị trường mới nổi (Đông Nam Á, Châu Phi). Lazada, Zalora là các ví dụ điển hình từ lò Rocket Internet.
eFounders (Pháp - Bỉ): Một ví dụ tuyệt vời về venture builder chuyên ngành. Họ chỉ tập trung xây dựng các công ty phần mềm dạng Dịch vụ (SaaS) cho doanh nghiệp (B2B), và đã tạo ra nhiều công ty thành công trong lĩnh vực này.
IV. Trung tâm Đổi mới sáng tạo (Innovation Hub)
Các Trung tâm Đổi mới sáng tạo (Innovation Hubs) thường được phân tích trong bối cảnh địa lý và hệ sinh thái (ecosystem context). Văn liệu học thuật định nghĩa chúng không chỉ là một không gian vật lý, mà là một thực thể điều phối (coordinating entity) được thiết kế để thúc đẩy sự tương tác, hợp tác và dòng chảy tri thức giữa các bên liên quan (stakeholders). Các hub này đóng vai trò là chất xúc tác, tạo điều kiện cho sự kết nối giữa các trường đại học/viện nghiên cứu (nguồn cung tri thức), các tập đoàn lớn (nguồn lực và thị trường), các startup (sự linh hoạt) và các cơ quan chính phủ (chính sách), thường được liên hệ với mô hình "Bộ ba Xoắn ốc" (Triple Helix) hoặc "Bộ tứ Xoắn ốc" (Quadruple Helix). Thay vì chỉ tập trung ươm tạo, mục tiêu của Innovation Hub rộng hơn, bao gồm thúc đẩy chuyển giao công nghệ, thu hút nhân tài, và phát triển cụm ngành (cluster development), qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh đổi mới sáng tạo tổng thể của một khu vực.
Station F (Paris, Pháp): Là một ví dụ hoàn hảo. Đây là "khuôn viên khởi nghiệp" (startup campus) lớn nhất thế giới, đặt trong một nhà ga xe lửa cũ. Station F tự nó không phải là vườn ươm, mà là một "hub" (trung tâm) chứa bên trong nó nhiều vườn ươm, tăng tốc (của Facebook, Microsoft...), các quỹ đầu tư, và cơ quan chính phủ, tất cả dưới một mái nhà.
MaRS Discovery District (Toronto, Canada): Một Trung tâm Đổi mới sáng tạo phi lợi nhuận quy mô lớn, kết nối chặt chẽ giữa khoa học, y tế, và công nghệ. MaRS là nơi quy tụ các startup, phòng lab của các tập đoàn, bệnh viện nghiên cứu, và các nhà đầu tư mạo hiểm, tạo thành một hệ sinh thái dày đặc ngay trung tâm thành phố.
One-North (Singapore): Đây là mô hình "hub" ở cấp độ một quận/khu vực, do chính phủ Singapore quy hoạch. One-North được thiết kế như một "thành phố" thu nhỏ, tập trung các cụm ngành (cluster) về công nghệ sinh học (Biopolis), truyền thông (Mediapolis), và công nghệ (Fusionopolis), tích hợp nơi làm việc, nhà ở, và giải trí.
V. Phòng Thí nghiệm Đổi mới sáng tạo của Tập đoàn (Corporate Innovation Lab)
Các Phòng Thí nghiệm Đổi mới sáng tạo của Tập đoàn (Corporate Innovation Labs) là một biểu hiện của chiến lược "đổi mới sáng tạo mở" (Open Innovation), như được giới thiệu bởi Chesbrough (2003). Đây là các đơn vị chuyên biệt được các tập đoàn lớn thành lập nhằm mục đích khám phá các công nghệ đột phá và mô hình kinh doanh mới bên ngoài cấu trúc vận hành cốt lõi của công ty mẹ. Nghiên cứu trong lĩnh vực quản trị chiến lược chỉ ra rằng các "lab" này có thể hoạt động như một vườn ươm hoặc tăng tốc nội bộ (intrapreneurship) hoặc tương tác, hợp tác với các startup bên ngoài. Mục tiêu cuối cùng là giúp tập đoàn thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của thị trường (market disruption), tiếp cận các giải pháp đổi mới và thúc đẩy văn hóa sáng tạo trong tổ chức, mặc dù thách thức lớn nhất vẫn là việc tích hợp thành công các sáng kiến này trở lại với hoạt động kinh doanh chính.
X, the Moonshot Factory (Alphabet/Google, Mỹ): Nơi khai sinh ra các dự án "viển vông" nhưng đột phá như xe tự lái Waymo, kính thông minh Google Glass, và dự án năng lượng Makani. Đây là mô hình "lab" tập trung vào các công nghệ cực kỳ mới (moonshot) với rủi ro cao.
PARC (A Xerox Company, Mỹ): Một ví dụ "huyền thoại". Phòng lab của Xerox này đã phát minh ra giao diện đồ họa người dùng (GUI), con chuột máy tính, và mạng Ethernet, những thứ định hình máy tính cá nhân hiện đại.
BMW Startup Garage (Đức): Khác với các lab nội bộ, đây là mô hình "lab mở". BMW Startup Garage chủ động tìm kiếm các startup công nghệ bên ngoài có giải pháp phù hợp, sau đó giúp họ trở thành nhà cung cấp cho BMW. Họ không đầu tư lấy cổ phần mà tập trung vào việc tích hợp công nghệ.
THUẬT NGỮ VÀ TIÊU CHÍ CỦA TRUNG TÂM ĐỔI MỚI SÁNG TẠO, TRUNG TÂM ĐỔI MỚI SÁNG TẠO CẤP QUỐC GIA
(1) Đổi mới sáng tạo: là hoạt động tạo ra sản phẩm mới, dịch vụ mới, quy trình mới, mô hình kinh doanh mới hoặc cải tiến đáng kể so với sản phẩm, dịch vụ, quy trình, mô hình kinh doanh đã có.
(2) Hỗ trợ đổi mới sáng tạo: là hoạt động cung cấp nguồn lực, dịch vụ cho đổi mới sáng tạo, bao gồm: sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, hạ tầng kỹ thuật, không gian làm việc, pháp lý, thông tin thị trường, tài chính, thương mại, truyền thông, kết nối đầu tư và hỗ trợ cần thiết khác.
(3) Hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo: là hoạt động cung cấp nguồn lực, dịch vụ bao gồm: sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, hạ tầng kỹ thuật, không gian làm việc, pháp lý, thông tin thị trường, tài chính, thương mại, truyền thông, kết nối đầu tư và hỗ trợ cần thiết khác cho khởi nghiệp sáng tạo
(4) Trung tâm đổi mới sáng tạo: là tổ chức thực hiện, hỗ trợ hoạt động đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo, được công nhận theo tiêu chí năng lực và kết quả hoạt động.
(5) Hệ sinh thái hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo: là tập hợp các yếu tố về hạ tầng, mạng lưới, cơ chế, chính sách, dịch vụ và các tổ chức hỗ trợ được tổ chức và vận hành nhằm nâng cao năng lực khởi nghiệp sáng tạo, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành, phát triển và thương mại hóa sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh sáng tạo.
(6) Hệ thống đổi mới sáng tạo: là tổng thể các chủ thể và mối liên kết giữa doanh nghiệp, cơ sở giáo dục, cơ sở nghiên cứu, tổ chức trung gian, cơ quan nhà nước, cộng đồng và hệ thống thiết chế để thúc đẩy việc tạo ra hoặc cải tiến sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh nhằm nâng cao hiệu suất, giá trị gia tăng, hiệu quả kinh tế - xã hội và chất lượng cuộc sống.
II. TIÊU CHÍ XÁC ĐỊNH TRUNG TÂM ĐỔI MỚI SÁNG TẠO, TRUNG TÂM ĐỔI MỚI SÁNG TẠO CẤP QUỐC GIA
2.1. Tiêu chí xác định Trung tâm Đổi mới sáng tạo
Căn cứ Nghị định số 268/2025/NĐ-CP, Điều 29 quy định tiêu chí xác định trung tâm đổi mới sáng tạo như sau:
“1. Là các loại hình tổ chức có hoạt động đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo, hỗ trợ đổi mới sáng tạo, hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo theo quy định tại Điều 47 Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, có mục tiêu kết nối, tập hợp và huy động các nguồn lực trong và ngoài nước để hỗ trợ tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân thực hiện hoạt động đổi mới sáng tạo; cung cấp dịch vụ, hạ tầng và giải pháp để thúc đẩy ứng dụng công nghệ, chuyển giao công nghệ, đổi mới công nghệ, phát triển sản phẩm mới, khai thác và thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ, nâng cao năng suất, chuyển đổi số, phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, đồng thời kết nối và phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo.
2. Thực hiện một số hoạt động chính sau:
a) Khảo sát, thu thập và phân tích nhu cầu ứng dụng công nghệ, chuyển giao công nghệ, đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, nâng cao năng suất và phát triển sản phẩm mới của tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân;
b) Tư vấn, đề xuất các giải pháp đổi mới sáng tạo phù hợp với từng đối tượng, bao gồm: Công nghệ, mô hình tổ chức - sản xuất - kinh doanh, quyền sở hữu trí tuệ và phương thức huy động nguồn lực;
c) Tổ chức các hoạt động kết nối cung - cầu công nghệ, kết nối chuyên gia, tổ chức khoa học và công nghệ, viện, trường, doanh nghiệp và các bên liên quan trong và ngoài nước phục vụ đổi mới sáng tạo;
d) Triển khai các hoạt động hỗ trợ ứng dụng công nghệ, chuyển giao công nghệ, đổi mới công nghệ, cải tiến quy trình, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng và chuyển đổi số;
đ) Phát triển và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ đổi mới sáng tạo, bao gồm: Trình diễn công nghệ, thử nghiệm - đánh giá công nghệ, đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn - tư vấn kỹ thuật, cung cấp hạ tầng và thiết bị phục vụ nghiên cứu - phát triển - đổi mới sản phẩm;
e) Tổ chức hoạt động ươm tạo công nghệ và ươm tạo khởi nghiệp; hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo hoàn thiện sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh, xây dựng chiến lược phát triển và tiếp cận thị trường;
g) Hỗ trợ tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân trong việc bảo hộ, quản trị, khai thác và thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ; tư vấn định giá quyền sở hữu trí tuệ và tiếp cận các cơ chế tài chính dựa trên quyền sở hữu trí tuệ;
h) Phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, thúc đẩy văn hóa đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo;
i) Xây dựng và duy trì cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin phục vụ hoạt động đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ.
3. Có hạ tầng kỹ thuật đáp ứng yêu cầu thực hiện đổi mới sáng tạo, hỗ trợ đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp sáng tạo phù hợp với ngành, lĩnh vực, địa phương:
a) Có không gian làm việc và kết nối như: Văn phòng; phòng hội thảo; không gian tư vấn, kết nối; không gian trình diễn, trưng bày sản phẩm công nghệ;
b) Có hạ tầng số và dữ liệu như: Internet; cơ sở dữ liệu chuyên gia, công nghệ;
c) Có tiện ích và dịch vụ dùng chung.
4. Về nguồn lực, năng lực thực hiện:
a) Có ít nhất 07 nhân lực cơ hữu, trong đó tối thiểu 50% nhân lực có trình độ đại học trở lên có chuyên môn phù hợp với ngành, lĩnh vực hoạt động trực tiếp thực hiện hoạt động đổi mới sáng tạo, hỗ trợ đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp sáng tạo;
b) Có văn bản cam kết hợp tác với các chuyên gia, cố vấn về công nghệ, pháp lý, sở hữu trí tuệ, tài chính - đầu tư;
c) Có mạng lưới kết nối các viện nghiên cứu, trường đại học, tổ chức khoa học công nghệ, các quỹ đầu tư, doanh nghiệp trong lĩnh vực hoạt động.
5. Kết quả hoạt động hằng năm
a) Hỗ trợ ít nhất 10 doanh nghiệp thực hiện một trong số các hoạt động ứng dụng công nghệ, chuyển giao công nghệ, đổi mới công nghệ, sáng tạo công nghệ, nâng cao hiệu suất công nghệ;
b) Hỗ trợ ít nhất 10 cá nhân, nhóm cá nhân, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo tham gia các chương trình, khóa đào tạo, tập huấn về khởi nghiệp sáng tạo;
c) Có doanh thu trực tiếp từ kết quả thực hiện ứng dụng công nghệ, chuyển giao công nghệ, đổi mới công nghệ, sáng tạo công nghệ, nâng cao hiệu suất công nghệ, đạt ít nhất 05 tỷ đồng Việt Nam.”
2.2. Tiêu chí xác định Trung tâm Đổi mới sáng tạo cấp quốc gia
Điều 31 Nghị định 268/2025/NĐ-CP quy định tiêu chí xác định trung tâm đổi mới sáng tạo cấp quốc gia như sau: này.
“1. Đáp ứng tiêu chí quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 29 Nghị định
“2. Về nguồn lực, năng lực thực hiện:
a) Có ít nhất 30 nhân lực cơ hữu, trong đó tối thiểu 50% nhân lực có trình độ đại học trở lên có chuyên môn phù hợp với ngành, lĩnh vực hoạt động trực tiếp thực hiện hoạt động đổi mới sáng tạo, hỗ trợ đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp sáng tạo;
b) Có văn bản cam kết hợp tác với các chuyên gia, cố vấn về công nghệ, pháp lý, sở hữu trí tuệ, tài chính - đầu tư;
c) Có mạng lưới kết nối các viện nghiên cứu, trường đại học, tổ chức khoa học công nghệ, các quỹ đầu tư, doanh nghiệp trong lĩnh vực hoạt động;
d) Có khả năng hỗ trợ phát triển, tạo ra các công nghệ, sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh mới hoặc cải tiến đóng vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và giải quyết các vấn đề liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, liên vùng trong phạm vi cả nước;
đ) Có năng lực kết nối, hỗ trợ, hợp tác với các tổ chức, hiệp hội nghề nghiệp, mạng lưới đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo trong nước và ngoài nước.
3. Kết quả hoạt động hằng năm
a) Hỗ trợ ít nhất 50 doanh nghiệp thực hiện một trong số các hoạt động ứng dụng công nghệ, chuyển giao công nghệ, đổi mới công nghệ, sáng tạo công nghệ, nâng cao hiệu suất công nghệ;
b) Hỗ trợ ít nhất 30 cá nhân, nhóm cá nhân, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo tham gia các chương trình, khóa đào tạo, tập huấn về khởi nghiệp sáng tạo;
c) Có doanh thu trực tiếp từ kết quả tư vấn, hỗ trợ ứng dụng công nghệ, chuyển giao công nghệ, đổi mới công nghệ, sáng tạo công nghệ, nâng cao hiệu suất công nghệ đạt ít nhất 50 tỷ đồng Việt Nam.”
Altenburg, T. (2009), “Building inclusive innovation systems in developing countries: challenges for IS research”, in Lundvanll BA, Joseph K.J., Cristina Chaminade & Jan Vang (eds), Handbook of Innovation System in Developing Countries: Building Domestic Capabilities in a Global Setting. Edward Elgar.
Chesbrough H., Radziwon A., Vanhaverbeke W., West J., (2024) (Ed). The Oxford Handbook of Open Innovation. Oxford University Press.
Ca T.N. and Hung N.V. (2011), “Vietnam: Current Debates on the Transformation of Academic Institutions” in Bo Goransson and Claes Brundenius (ed), Universities in Transition: the Changing Role and Challenges for Academic Institutions, IDRC - Springer.
Edler J., Cunningham P., Gok A., Shapira P., (2016). Handbook of Innovation Policy Impact. Edward Elgar.
Ezell S., Atkinson R. (2011). International Benchmarking of Countries’s policies and Programs Supporting SMEs Manufacturers. National Institute of Standard and Technology.
Fukugawa N. (2008). “Evaluating the strategy of local public technology centers in regional innovation systems: evidence from Japan”, Science and Public Policy, 35(3), 159-170p DOI: 10.3152/030234208X299062; http://www.ingentaconnect.com/content/beech/spp
Fukugawa N., Akira G. (2016). Problem Solving and Intermediation by Local Public Technology Centers in Regional Innovation Systems: The first report on a branch-level survey on technical consultation. RIETI Discussion
Paper Series 16-E-062. The Research Institute of Economy, Trade and Industry; http://www.rieti.go.jp/en/
Goransson, B. and Brundenius, C. (ed) (2011), Universities in Transition: the Changing Role and Challenges for Academic Institutions, IDRC - Springer.
GTZ (2015), ASEAN Policy Framework on Public-Private Partnerships for Technology Development and Innovation.
Kolodny H., Stymne B., Shani R., Figuera J.R., Lillrank P. (2001). “Design and policy choices for technology extension organizations”. Research Policy. 30 (2001) 201 - 225.
Lopez-Gomez C. (2015). International Approaches to Industtrial- Innovation Policy: A Focus on UK and Japan. The 40th Policy Platform (PoP) seminar; Science, Technology, and Innovation Governance (STIG) Program. University of Tokyo.
Lundvanll BA, Joseph K.J., Cristina Chaminade & Jan Vang (eds) (2009), Handbook of Innovation System in Developing Countries: Building Domestic Capabilities in a Global Setting. Edward Elgar.
Nguyễn Võ Hưng et al, (2006), Nghiên cứu cơ chế và chính sách khuyến khích đổi mới công nghệ ở doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNNVVs) có vốn nhà nước, Báo cáo Đề tài nghiên cứu cấp Bộ, NISTPASS.
Ngô Minh Tuấn et al. (2017). Overview of existing models of supporting SMEs in Vietnam. CIEM.
Nguyễn Võ Hưng et al. (2003), Nghiên cứu cơ chế và chính sách phát triển thị trường công nghệ ở Việt Nam, Báo cáo Đề tài nghiên cứu cấp Bộ, NISTPASS.
OECD (2017), The Next Production Revolution: Implication for Governments and Business.
Pietrobelli và Rabellotti (2009), “The global dimensi on of innovation systems: linking innovation systems and global value chains”, in Lundvanll BA, Joseph K.J., Cristina Chaminade & Jan Vang (eds), Handbook of Innovation System in Developing Countries: Building Domestic Capabilities in a Global Setting. Edward Elgar.
RACINE Jean-Louis (2004), Using Industrial Extension to Enhance the Technological Capabilities of Small and Medium Enterprises in Vietnam, unpublished report prepared for UNIDO & NISTPASS.
Shapira P., Rosenfeld S. (1997). An overview of technology diffustion policies and programs to enhance the technological absorptive capabilities of small and medium enterprises. https://www.scheller.gatech.edu/centers- initiatives/ciber/projects/workingpaper/1997/shapira2.pdf
Shapira P., Wessner (2013). 21st Century Manufacturing: the Role of the Menufacturing Extension Partnership Program. National Academy of Sciences.
Shapira P., Youtie J. (2014). Building capabilities for innnovation in DNNVVs: a cross-country comparison of technology extension policies and programmes. International Journal of Innovation and Regional Development. Doi: 10.1504/IJRD.2011.040526.
Shapira P., Youtie J. (2017). Impact of Technology and Innovation Advisory Services. Nesta Working Paper No. 13/19. 2014. 41p.
UNCTAD (2007), The Least Developed Countries Report: Knowledge, Technological Learning and Innovation for Development.
United States Government Accountability Office (2013). Global Manufacturing: Foreign Government programs Differ in some Key Respects from those in United States. Report to the Chairman, Committee on Commerce, Science, and Transportation, U.S. Senate. GAO-13-365. 2013.
Viện nghiên cứu của Mitsubishi - Viện nghiên cứu quản lý trung ương (2017). Báo cáo Nghiên cứu về Nâng cao Năng lực các Ngành Công nghiệp Hỗ Trợ Việt Nam.
World Bank (2017). Vietnam: Enhancing Enterprise Competitiveness and SME Linkages Lessons from international and national experience. Report.
World Bank & Australian Aid (2020). Vietnam: Enhancing Innovation System; Vietnam: Science and Technology and Innovation Report.
Trung tâm Khởi nghiệp Sáng tạo Thành phố Hồ Chí Minh (2025). Báo cáo Hệ sinh thái Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Thành phố Hồ Chí Minh (Thuộc nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Thành phố “Xây dựng báo cáo hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo thành phố Hồ Chí Minh”).
[1] PII (Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương - do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì xây dựng và công bố hằng năm) đo lường năng lực đổi mới sáng tạo các tỉnh, thành phố, với thang điểm tối đa 100. Bộ chỉ số gồm 7 trụ cột: Thể chế; Vốn con người và R&D; Cơ sở hạ tầng; Thị trường; Doanh nghiệp; Sản phẩm trí tuệ - công nghệ; Tác động kinh tế - xã hội.
[2] OECD: Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for Economic Cooperation and Development)
[3] IFRS viết tắt cho cụm từ “International Financial Reporting Standards” - Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế: Là một bộ các chuẩn mực & quy tắc được thiết kế, phát triển, ban hành bởi một tổ chức phi lợi nhuận mang tên Hội đồng Chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB)
[4] GRI viết tắt của Global Reporting Initiative (Sáng kiến Báo cáo Toàn cầu), một tổ chức phi lợi nhuận cung cấp bộ tiêu chuẩn quốc tế cho việc báo cáo phát triển bền vững.
[5] Nguồn: https://www.gov.uk/government/publications/dsit-research-and-development-rd-allocations-for-20252026/dsit-research-and-development-rd-allocations-for-20252026
[6] Nguồn: https://www.techuk.org/resource/government-announces-86-billion-for-r-d-until-2029-30.html
[7] Nguồn: https://www.investopedia.com/biden-admin-unveils-funding-for-12-tech-hubs-8672576
[8] 73 triệu đô la hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp, 11 triệu đô la cho các tổ chức cung cấp dịch vụ cho doanh nghiệp và 5 triệu đô la cho doanh nghiệp thuê khoán lao động khoa học trẻ tham gia các dự án được hỗ trợ.
[9] Theo báo cáo đánh giá IRAP thực hiện năm 2007
Đăng xuất
Việc làm Hồ Chí Minh