Quyết định 2196/QĐ-BTP năm 2026 phê duyệt Đề án “Hỗ trợ con nuôi là người Việt Nam ở nước ngoài tìm kiếm thông tin về nguồn gốc, về thăm quê hương, đất nước” do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành
| Số hiệu | 2196/QĐ-BTP |
| Ngày ban hành | 02/10/2026 |
| Ngày có hiệu lực | 02/10/2026 |
| Loại văn bản | Quyết định |
| Cơ quan ban hành | Bộ Tư pháp |
| Người ký | Nguyễn Thanh Ngọc |
| Lĩnh vực | Quyền dân sự |
|
BỘ TƯ PHÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 2196/QĐ-BTP |
Hà Nội, ngày 02 tháng 10 năm 2026 |
BỘ TRƯỞNG BỘ TƯ PHÁP
Căn cứ Luật Nuôi con nuôi ngày 17 tháng 6 năm 2010;
Căn cứ Nghị định số 09/2026/NĐ-CP ngày 10 tháng 01 năm 2026 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp;
Căn cứ Quyết định số 107/QĐ-BTP ngày 15 tháng 01 năm 2026 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Hành chính tư pháp;
Căn cứ Quyết định số 2696/QĐ-TTg ngày 11 tháng 12 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai Bộ Công cụ ngăn ngừa và xử lý các hành vi không tuân thủ pháp luật trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế giai đoạn 2026 - 2030;
Căn cứ Quyết định số 188/QĐ-BTP ngày 19 tháng 01 năm 2026 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Kế hoạch triển khai Quyết định số 2696/QĐ-TTg ngày 11 tháng 12 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai Bộ Công cụ ngăn ngừa và xử lý các hành vi không tuân thủ pháp luật trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế giai đoạn 2026 - 2030;
Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Hành chính tư pháp.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.
|
|
KT. BỘ TRƯỞNG |
HỖ TRỢ CON NUÔI LÀ NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC
NGOÀI TÌM KIẾM THÔNG TIN VỀ NGUỒN GỐC, VỀ THĂM QUÊ HƯƠNG, ĐẤT NƯỚC
(Kèm theo Quyết định số 2196/QĐ-BTP ngày 02 tháng 10 năm 2026 của Bộ
trưởng Bộ Tư pháp)
I. SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
1.1. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09 tháng 11 năm 2022 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đặt ra nhiệm vụ “tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế tổ chức thực hiện pháp luật nghiêm minh, hiệu quả, bảo đảm yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững”, “lấy con người là trung tâm, mục tiêu, chủ thể và động lực phát triển đất nước; Nhà nước tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân”. Ngày 30 tháng 4 năm 2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, trong đó, xác định quan điểm chỉ đạo: “phát huy dân chủ, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân; hoàn thiện cơ chế, nâng cao năng lực của các cơ quan, tổ chức Việt Nam để bảo đảm thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ pháp lý quốc tế”.
1.2. Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em mà Việt Nam là thành viên kể từ năm 1990 đã nêu: “Các quốc gia thành viên phải tôn trọng và bảo đảm những quyền được nêu ra trong Công ước này đối với mỗi trẻ em thuộc quyền tài phán của họ mà không có bất cứ một sự phân biệt, đối xử nào, bất kể trẻ em, cha mẹ hay người giám hộ pháp lý của trẻ em đó thuộc chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến gì khác, nguồn gốc quốc gia, dân tộc hay xã hội, tài sản, tàn tật, xuất thân gia đình và những mối tương quan khác”. Đồng thời, Công ước này cũng quy định “các quốc gia thành viên cam kết tôn trọng quyền của trẻ em được giữ gìn bản sắc của mình, kể cả quốc tịch, họ tên và các quan hệ gia đình được pháp luật thừa nhận”. Công ước La Hay 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực con nuôi quốc tế (sau đây gọi là Công ước La Hay 1993) mà Việt Nam là thành viên kể từ năm 2012 quy định trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền liên quan đến nguồn gốc của trẻ em được giải quyết làm con nuôi, cụ thể: “Các cơ quan có thẩm quyền của Nước ký kết phải đảm bảo việc lưu giữ những thông tin mình có được về nguồn gốc của trẻ em, đặc biệt là những thông tin liên quan đến căn cước của cha, mẹ của trẻ em cũng như lý lịch y tế của trẻ em và của gia đình của trẻ em”. Bên cạnh đó, Công ước La Hay 1993 cũng quy định quyền của trẻ em được nhận làm con nuôi: “ Các cơ quan có thẩm quyền của Nước ký kết phải đảm bảo cho trẻ em hoặc người đại diện của trẻ em được tiếp cận những thông tin này có được sự hướng dẫn thích hợp trong phạm vi được pháp luật của Nước ký kết cho phép”.
1.3. Luật Nuôi con nuôi năm 2010 quy định: "1. Con nuôi có quyền được biết về nguồn gốc của mình. Không ai được cản trở con nuôi được biết về nguồn gốc của mình. 2. Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện cho con nuôi là người Việt Nam ở nước ngoài về thăm quê hương, đất nước" (Điều 11). Đây là một trong những nội dung quan trọng của Luật Nuôi con nuôi so với các quy định trước đây về nuôi con nuôi, tạo cơ chế pháp lý minh bạch cho cha, mẹ nuôi và con nuôi tìm kiếm thông tin, củng cố tình cảm gia đình và hỗ trợ tâm lý cho con nuôi quốc tế. Quy định này thể hiện tính nhân văn sâu sắc, khẳng định và bảo vệ quyền được biết về nguồn gốc của mình của trẻ em được cho làm con nuôi, nêu rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và các cá nhân có liên quan trong quan hệ nuôi con nuôi trong việc bảo đảm quyền được biết về nguồn gốc của trẻ em khi trẻ em đến tuổi trưởng thành và có yêu cầu. Quy định tại khoản 2 của Điều này vừa có tính chất bắt buộc vừa có tính chất khuyến khích cha, mẹ nuôi là người nước ngoài tạo điều kiện cho con nuôi là người Việt Nam ở nước ngoài về thăm quê hương, đất nước, tìm hiểu về nguồn gốc và bản sắc văn hóa dân tộc. Trên cơ sở đó, Thông tư liên tịch số 03/2016/TTLT-BTP-BNG-BCA- BLĐTBXH ngày 22 tháng 02 năm 2016 của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội hướng dẫn việc theo dõi tình hình phát triển của trẻ em Việt Nam được làm con nuôi nước ngoài và bảo vệ trẻ em trong trường hợp cần thiết đã quy định về việc cha, mẹ nuôi, con nuôi có nguyện vọng tìm kiếm thông tin về nguồn gốc của con nuôi có thể trực tiếp đến Bộ Tư pháp hoặc gửi đề nghị qua đường bưu điện, fax hoặc thư điện tử đến Bộ Tư pháp hoặc thông qua tổ chức con nuôi nước ngoài, hoặc Cơ quan trung ương về nuôi con nuôi quốc tế của nước nơi con nuôi thường trú, đồng thời, quy định cụ thể thời hạn Bộ Tư pháp hỗ trợ con nuôi tìm kiếm thông tin về nguồn gốc.
1.4. Ngày 11 tháng 12 năm 2025, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 2696/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai Bộ Công cụ ngăn ngừa và xử lý các hành vi không tuân thủ pháp luật trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế giai đoạn 2026 - 2030. Trên cơ sở đó ngày 19/01/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ký Quyết định số 188/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch triển khai Quyết định số 2696/QĐ-TTg ngày 11 tháng 12 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai Bộ Công cụ ngăn ngừa và xử lý các hành vi không tuân thủ pháp luật trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế giai đoạn 2026 - 2030, trong đó có nhiệm vụ “Nghiên cứu, xây dựng và triển khai cơ chế, quy trình hỗ trợ người Việt Nam được nhận làm con nuôi ở nước ngoài tìm kiếm thông tin về nguồn gốc, tiếp cận thông tin, giấy tờ liên quan đến việc giải quyết nuôi con nuôi và thăm quê hương, đất nước”. Việc triển khai các nhiệm vụ được giao nói chung cũng như nhiệm vụ cụ thể liên quan đến hoạt động con nuôi tìm kiếm thông tin về nguồn gốc, về thăm quê hương, đất nước nhằm mục đích tổ chức hiệu quả việc thực hiện các khuyến nghị trong Bộ Công cụ, thực hiện tốt Công ước La Hay 1993, thể hiện cam kết, trách nhiệm của Việt Nam với tư cách là thành viên của Công ước La Hay 1993; bảo đảm công tác giải quyết nuôi con nuôi quốc tế được thực hiện vì lợi ích tốt nhất của con nuôi; ngăn ngừa, xử lý các hành vi không tuân thủ pháp luật trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế, trong đó, có hành vi không bảo quản hoặc từ chối một cách trái pháp luật việc truy cập thông tin về nguồn gốc; đồng thời tăng cường hơn nữa hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý và thi hành pháp luật về nuôi con nuôi quốc tế trong tình hình mới; thúc đẩy sự phát triển các dịch vụ tư vấn về nuôi con nuôi trước và sau khi hoàn tất thủ tục nuôi con nuôi.
Trên thế giới, trong nhiều năm qua, trên cơ sở giải quyết việc nuôi con nuôi quốc tế, một số quốc gia cũng đã quan tâm và tích cực triển khai các hoạt động hỗ trợ con nuôi tìm kiếm thông tin về nguồn gốc, về thăm quê hương, đất nước nhằm bảo đảm quyền lợi của người được nhận làm con nuôi ở nước ngoài, cụ thể như Thái Lan, Phi-líp-pin, Ê-ti-ô-pi-a…
Tại Việt Nam, việc giải quyết cho trẻ em Việt Nam làm con nuôi ở nước ngoài được bắt đầu từ năm 1992 (Quyết định số 145 - HĐBT ngày 29/4/1992 của Hội đồng Bộ trưởng quy định tạm thời về việc cho người nước ngoài nhận con nuôi là trẻ em Việt Nam bị mồ côi, bị bỏ rơi, bị tàn tật tại các cơ sở nuôi dưỡng do ngành lao động thương binh và xã hội quản lý). Theo thống kê không đầy đủ, trước năm 2011 có khoảng 10.000 trẻ em Việt Nam làm con nuôi ở nước ngoài. Đến năm 2011, công tác nuôi con nuôi được điều chỉnh bởi Luật Nuôi con nuôi. Theo số liệu thống kê từ năm 2011 đến năm 2025, số lượng người Việt Nam được giải quyết làm con nuôi nước ngoài là 4.879 trường hợp, trong đó có 3.605 trường hợp có độ tuổi dưới 10 tuổi và 1.274 trường hợp từ 10 tuổi trở lên, 3.406 trường hợp được nhận nuôi từ cơ sở nuôi dưỡng và 1.473 trường hợp được nhận nuôi từ gia đình; trong đó đáng chú ý, có 2.335 trường hợp có nhu cầu chăm sóc đặc biệt, 2.544 trường hợp có sức khỏe bình thường. Hiện các con nuôi là người Việt Nam đang sinh sống tại 34 quốc gia trên thế giới, tập trung chủ yếu ở một số quốc gia như Pháp, Tây Ban Nha, I-ta-li-a, Ca-na-đa, Hoa Kỳ, Ai-len, Đài Loan.
Đến nay, nhiều con nuôi là người Việt Nam đã đến tuổi trưởng thành, có nguyện vọng tìm hiểu thông tin về nguồn gốc hoặc về thăm quê hương, đất nước. Theo thống kê của Bộ Tư pháp, từ năm 2015 đến tháng 6 năm 2026, có khoảng 150 trường hợp con nuôi có nguyện vọng tìm nguồn gốc gửi yêu cầu đến Bộ Tư pháp và được bảo đảm thực hiện đúng theo quy định pháp luật; theo thống kê của các tổ chức con nuôi nước ngoài tại Việt Nam, từ năm 2019 đến tháng 6 năm 2026, có 263 gia đình con nuôi (gồm 869 người) đã về thăm Việt Nam. Bên cạnh đó, có nhiều trường hợp con nuôi là người Việt Nam ở nước ngoài thực hiện việc tìm kiếm thông tin về nguồn gốc, về thăm cơ sở nuôi dưỡng, thăm quê hương, đất nước một cách tự phát, không thông qua cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, không thực hiện theo các quy định hiện hành và gần đây số lượng này có xu hướng tăng.
|
BỘ TƯ PHÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 2196/QĐ-BTP |
Hà Nội, ngày 02 tháng 10 năm 2026 |
BỘ TRƯỞNG BỘ TƯ PHÁP
Căn cứ Luật Nuôi con nuôi ngày 17 tháng 6 năm 2010;
Căn cứ Nghị định số 09/2026/NĐ-CP ngày 10 tháng 01 năm 2026 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp;
Căn cứ Quyết định số 107/QĐ-BTP ngày 15 tháng 01 năm 2026 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Hành chính tư pháp;
Căn cứ Quyết định số 2696/QĐ-TTg ngày 11 tháng 12 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai Bộ Công cụ ngăn ngừa và xử lý các hành vi không tuân thủ pháp luật trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế giai đoạn 2026 - 2030;
Căn cứ Quyết định số 188/QĐ-BTP ngày 19 tháng 01 năm 2026 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Kế hoạch triển khai Quyết định số 2696/QĐ-TTg ngày 11 tháng 12 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai Bộ Công cụ ngăn ngừa và xử lý các hành vi không tuân thủ pháp luật trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế giai đoạn 2026 - 2030;
Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Hành chính tư pháp.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.
|
|
KT. BỘ TRƯỞNG |
HỖ TRỢ CON NUÔI LÀ NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC
NGOÀI TÌM KIẾM THÔNG TIN VỀ NGUỒN GỐC, VỀ THĂM QUÊ HƯƠNG, ĐẤT NƯỚC
(Kèm theo Quyết định số 2196/QĐ-BTP ngày 02 tháng 10 năm 2026 của Bộ
trưởng Bộ Tư pháp)
I. SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
1.1. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09 tháng 11 năm 2022 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đặt ra nhiệm vụ “tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế tổ chức thực hiện pháp luật nghiêm minh, hiệu quả, bảo đảm yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững”, “lấy con người là trung tâm, mục tiêu, chủ thể và động lực phát triển đất nước; Nhà nước tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân”. Ngày 30 tháng 4 năm 2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, trong đó, xác định quan điểm chỉ đạo: “phát huy dân chủ, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân; hoàn thiện cơ chế, nâng cao năng lực của các cơ quan, tổ chức Việt Nam để bảo đảm thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ pháp lý quốc tế”.
1.2. Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em mà Việt Nam là thành viên kể từ năm 1990 đã nêu: “Các quốc gia thành viên phải tôn trọng và bảo đảm những quyền được nêu ra trong Công ước này đối với mỗi trẻ em thuộc quyền tài phán của họ mà không có bất cứ một sự phân biệt, đối xử nào, bất kể trẻ em, cha mẹ hay người giám hộ pháp lý của trẻ em đó thuộc chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến gì khác, nguồn gốc quốc gia, dân tộc hay xã hội, tài sản, tàn tật, xuất thân gia đình và những mối tương quan khác”. Đồng thời, Công ước này cũng quy định “các quốc gia thành viên cam kết tôn trọng quyền của trẻ em được giữ gìn bản sắc của mình, kể cả quốc tịch, họ tên và các quan hệ gia đình được pháp luật thừa nhận”. Công ước La Hay 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực con nuôi quốc tế (sau đây gọi là Công ước La Hay 1993) mà Việt Nam là thành viên kể từ năm 2012 quy định trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền liên quan đến nguồn gốc của trẻ em được giải quyết làm con nuôi, cụ thể: “Các cơ quan có thẩm quyền của Nước ký kết phải đảm bảo việc lưu giữ những thông tin mình có được về nguồn gốc của trẻ em, đặc biệt là những thông tin liên quan đến căn cước của cha, mẹ của trẻ em cũng như lý lịch y tế của trẻ em và của gia đình của trẻ em”. Bên cạnh đó, Công ước La Hay 1993 cũng quy định quyền của trẻ em được nhận làm con nuôi: “ Các cơ quan có thẩm quyền của Nước ký kết phải đảm bảo cho trẻ em hoặc người đại diện của trẻ em được tiếp cận những thông tin này có được sự hướng dẫn thích hợp trong phạm vi được pháp luật của Nước ký kết cho phép”.
1.3. Luật Nuôi con nuôi năm 2010 quy định: "1. Con nuôi có quyền được biết về nguồn gốc của mình. Không ai được cản trở con nuôi được biết về nguồn gốc của mình. 2. Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện cho con nuôi là người Việt Nam ở nước ngoài về thăm quê hương, đất nước" (Điều 11). Đây là một trong những nội dung quan trọng của Luật Nuôi con nuôi so với các quy định trước đây về nuôi con nuôi, tạo cơ chế pháp lý minh bạch cho cha, mẹ nuôi và con nuôi tìm kiếm thông tin, củng cố tình cảm gia đình và hỗ trợ tâm lý cho con nuôi quốc tế. Quy định này thể hiện tính nhân văn sâu sắc, khẳng định và bảo vệ quyền được biết về nguồn gốc của mình của trẻ em được cho làm con nuôi, nêu rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và các cá nhân có liên quan trong quan hệ nuôi con nuôi trong việc bảo đảm quyền được biết về nguồn gốc của trẻ em khi trẻ em đến tuổi trưởng thành và có yêu cầu. Quy định tại khoản 2 của Điều này vừa có tính chất bắt buộc vừa có tính chất khuyến khích cha, mẹ nuôi là người nước ngoài tạo điều kiện cho con nuôi là người Việt Nam ở nước ngoài về thăm quê hương, đất nước, tìm hiểu về nguồn gốc và bản sắc văn hóa dân tộc. Trên cơ sở đó, Thông tư liên tịch số 03/2016/TTLT-BTP-BNG-BCA- BLĐTBXH ngày 22 tháng 02 năm 2016 của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội hướng dẫn việc theo dõi tình hình phát triển của trẻ em Việt Nam được làm con nuôi nước ngoài và bảo vệ trẻ em trong trường hợp cần thiết đã quy định về việc cha, mẹ nuôi, con nuôi có nguyện vọng tìm kiếm thông tin về nguồn gốc của con nuôi có thể trực tiếp đến Bộ Tư pháp hoặc gửi đề nghị qua đường bưu điện, fax hoặc thư điện tử đến Bộ Tư pháp hoặc thông qua tổ chức con nuôi nước ngoài, hoặc Cơ quan trung ương về nuôi con nuôi quốc tế của nước nơi con nuôi thường trú, đồng thời, quy định cụ thể thời hạn Bộ Tư pháp hỗ trợ con nuôi tìm kiếm thông tin về nguồn gốc.
1.4. Ngày 11 tháng 12 năm 2025, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 2696/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai Bộ Công cụ ngăn ngừa và xử lý các hành vi không tuân thủ pháp luật trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế giai đoạn 2026 - 2030. Trên cơ sở đó ngày 19/01/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ký Quyết định số 188/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch triển khai Quyết định số 2696/QĐ-TTg ngày 11 tháng 12 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai Bộ Công cụ ngăn ngừa và xử lý các hành vi không tuân thủ pháp luật trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế giai đoạn 2026 - 2030, trong đó có nhiệm vụ “Nghiên cứu, xây dựng và triển khai cơ chế, quy trình hỗ trợ người Việt Nam được nhận làm con nuôi ở nước ngoài tìm kiếm thông tin về nguồn gốc, tiếp cận thông tin, giấy tờ liên quan đến việc giải quyết nuôi con nuôi và thăm quê hương, đất nước”. Việc triển khai các nhiệm vụ được giao nói chung cũng như nhiệm vụ cụ thể liên quan đến hoạt động con nuôi tìm kiếm thông tin về nguồn gốc, về thăm quê hương, đất nước nhằm mục đích tổ chức hiệu quả việc thực hiện các khuyến nghị trong Bộ Công cụ, thực hiện tốt Công ước La Hay 1993, thể hiện cam kết, trách nhiệm của Việt Nam với tư cách là thành viên của Công ước La Hay 1993; bảo đảm công tác giải quyết nuôi con nuôi quốc tế được thực hiện vì lợi ích tốt nhất của con nuôi; ngăn ngừa, xử lý các hành vi không tuân thủ pháp luật trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế, trong đó, có hành vi không bảo quản hoặc từ chối một cách trái pháp luật việc truy cập thông tin về nguồn gốc; đồng thời tăng cường hơn nữa hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý và thi hành pháp luật về nuôi con nuôi quốc tế trong tình hình mới; thúc đẩy sự phát triển các dịch vụ tư vấn về nuôi con nuôi trước và sau khi hoàn tất thủ tục nuôi con nuôi.
Trên thế giới, trong nhiều năm qua, trên cơ sở giải quyết việc nuôi con nuôi quốc tế, một số quốc gia cũng đã quan tâm và tích cực triển khai các hoạt động hỗ trợ con nuôi tìm kiếm thông tin về nguồn gốc, về thăm quê hương, đất nước nhằm bảo đảm quyền lợi của người được nhận làm con nuôi ở nước ngoài, cụ thể như Thái Lan, Phi-líp-pin, Ê-ti-ô-pi-a…
Tại Việt Nam, việc giải quyết cho trẻ em Việt Nam làm con nuôi ở nước ngoài được bắt đầu từ năm 1992 (Quyết định số 145 - HĐBT ngày 29/4/1992 của Hội đồng Bộ trưởng quy định tạm thời về việc cho người nước ngoài nhận con nuôi là trẻ em Việt Nam bị mồ côi, bị bỏ rơi, bị tàn tật tại các cơ sở nuôi dưỡng do ngành lao động thương binh và xã hội quản lý). Theo thống kê không đầy đủ, trước năm 2011 có khoảng 10.000 trẻ em Việt Nam làm con nuôi ở nước ngoài. Đến năm 2011, công tác nuôi con nuôi được điều chỉnh bởi Luật Nuôi con nuôi. Theo số liệu thống kê từ năm 2011 đến năm 2025, số lượng người Việt Nam được giải quyết làm con nuôi nước ngoài là 4.879 trường hợp, trong đó có 3.605 trường hợp có độ tuổi dưới 10 tuổi và 1.274 trường hợp từ 10 tuổi trở lên, 3.406 trường hợp được nhận nuôi từ cơ sở nuôi dưỡng và 1.473 trường hợp được nhận nuôi từ gia đình; trong đó đáng chú ý, có 2.335 trường hợp có nhu cầu chăm sóc đặc biệt, 2.544 trường hợp có sức khỏe bình thường. Hiện các con nuôi là người Việt Nam đang sinh sống tại 34 quốc gia trên thế giới, tập trung chủ yếu ở một số quốc gia như Pháp, Tây Ban Nha, I-ta-li-a, Ca-na-đa, Hoa Kỳ, Ai-len, Đài Loan.
Đến nay, nhiều con nuôi là người Việt Nam đã đến tuổi trưởng thành, có nguyện vọng tìm hiểu thông tin về nguồn gốc hoặc về thăm quê hương, đất nước. Theo thống kê của Bộ Tư pháp, từ năm 2015 đến tháng 6 năm 2026, có khoảng 150 trường hợp con nuôi có nguyện vọng tìm nguồn gốc gửi yêu cầu đến Bộ Tư pháp và được bảo đảm thực hiện đúng theo quy định pháp luật; theo thống kê của các tổ chức con nuôi nước ngoài tại Việt Nam, từ năm 2019 đến tháng 6 năm 2026, có 263 gia đình con nuôi (gồm 869 người) đã về thăm Việt Nam. Bên cạnh đó, có nhiều trường hợp con nuôi là người Việt Nam ở nước ngoài thực hiện việc tìm kiếm thông tin về nguồn gốc, về thăm cơ sở nuôi dưỡng, thăm quê hương, đất nước một cách tự phát, không thông qua cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, không thực hiện theo các quy định hiện hành và gần đây số lượng này có xu hướng tăng.
(Số liệu con nuôi nước ngoài từ năm 2011 đến nay tại Phụ lục 1 và Phụ lục 2; số liệu con nuôi là người Việt Nam ở nước ngoài về thăm quê hương, đất nước tại Phụ lục 3 kèm theo).
3.1. Thuận lợi
- Việc xây dựng Đề án và triển khai các hoạt động hỗ trợ con nuôi là người Việt Nam ở nước ngoài tìm kiếm thông tin về nguồn gốc, về thăm quê hương, đất nước phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến công tác bảo vệ trẻ em, người Việt Nam ở nước ngoài và việc giữ gìn bản sắc dân tộc, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc. Bên cạnh đó, Luật Nuôi con nuôi và các văn bản hướng dẫn thi hành đã có quy định tạo cơ sở pháp lý cho con nuôi ở nước ngoài tìm nguồn gốc, về thăm quê hương, đất nước.
- Việt Nam là thành viên của Công ước Lahay 1993, đây là cơ sở thuận lợi trong việc phối hợp với cơ quan có thẩm quyền của các nước khi triển khai hoạt động về nuôi con nuôi nói chung cũng như hoạt động tìm nguồn gốc của con nuôi, hỗ trợ con nuôi về thăm quê hương, đất nước nói riêng.
- Ngày càng nhiều con nuôi là người Việt Nam ở nước ngoài có nhu cầu tìm hiểu về nguồn gốc, mong muốn được biết về gia đình, quê hương, đất nước Việt Nam.
3.2. Khó khăn
- Việc cung cấp thông tin về nguồn gốc của con nuôi còn gặp nhiều khó khăn do chưa có đầy đủ quy định pháp luật quy định về trình tự, thủ tục, cơ chế tiếp cận thông tin, hỗ trợ con nuôi để tìm kiếm thông tin về nguồn gốc cũng như việc hỗ trợ con nuôi về thăm quê hương, đất nước để bảo đảm thực hiện chính sách của nhà nước Việt Nam khuyến khích, tạo điều kiện cho con nuôi là người Việt Nam ở nước ngoài về thăm quê hương, đất nước.
- Các thông tin về nguồn gốc của con nuôi không đầy đủ, rõ ràng, chính xác, hầu hết đang lưu trữ trên hồ sơ giấy, chưa được lưu trữ bài bản, chưa được số hóa, chưa có hệ thống dữ liệu về nguồn gốc của con nuôi cũng như chưa có cơ chế khai thác thông tin nhằm bảo đảm bí mật đời tư của từng cá nhân.
- Công tác truyền thông đối với hoạt động tìm kiếm thông tin về nguồn gốc, về thăm quê, hương đất nước chưa rộng rãi, dẫn đến việc con nuôi tìm kiếm thông tin về nguồn gốc, trở về thăm quê hương, đất nước thường theo hình thức tự phát, không được tổ chức một cách khoa học, con nuôi, cha, mẹ nuôi ở nước ngoài hoặc người thân của con nuôi ở Việt Nam không được chuẩn bị tâm lý kỹ càng, không được cung cấp các thông tin cần thiết có liên quan đến con nuôi và các hoạt động của con nuôi khi về Việt Nam.
- Con nuôi là người Việt Nam ở nước ngoài tìm kiếm thông tin về nguồn gốc, về thăm cơ sở nuôi dưỡng, thăm quê hương, đất nước một cách tự phát gây ra hoặc có nguy cơ gây ra sự mất ổn định và an toàn của hệ thống nuôi con nuôi quốc tế cũng như gây khó khăn cho con nuôi trong quá trình tìm kiếm thông tin về nguồn gốc, về thăm quê hương, đất nước.
3.3. Đánh giá chung
Việc xây dựng Đề án và triển khai các hoạt động hỗ trợ con nuôi là người Việt Nam ở nước ngoài tìm kiếm thông tin về nguồn gốc, về thăm quê hương, đất nước là cần thiết, phù hợp với mục tiêu nâng cao hiệu quả công tác người Việt Nam ở nước ngoài, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường hợp tác quốc tế và tạo động lực cho đất nước phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới tại Nghị quyết số 23/NQ-TW ngày 02 tháng 8 năm 2026 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài, phù hợp với nhu cầu chính đáng của người Việt Nam được nhận làm con nuôi ở nước ngoài, góp phần tăng cường mối quan hệ giữa họ với gia đình gốc và quê hương, đất nước.
Tổ chức thành công các chuyến về thăm quê hương, đất nước là một trong những mục tiêu quan trọng mà Đề án hướng tới, qua đó giúp con nuôi hiểu rõ về nguồn gốc, quê hương, truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam; bồi đắp tình yêu quê hương, đặc biệt, thể hiện sự quan tâm của nhà nước Việt Nam đối với con nuôi là người Việt Nam ở nước ngoài; thu hút con nuôi về làm việc, đóng góp cho quê hương; thắt chặt mối quan hệ gắn bó giữa gia đình nuôi quốc tế, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và đất nước Việt Nam.
Tuy nhiên, để Đề án đạt hiệu quả cao cần có cơ chế khắc phục những khó khăn, vướng mắc nêu trên.
II. MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO
- Tổ chức hiệu quả việc triển khai các khuyến nghị trong Bộ Công cụ nhằm thực hiện tốt Công ước La Hay 1993, thể hiện cam kết, trách nhiệm của Việt Nam với tư cách là thành viên của Công ước La Hay 1993 trong việc thực thi, bảo đảm quyền con người, quyền trẻ em.
- Bảo đảm quyền được biết thông tin nguồn gốc của con nuôi, quyền được về thăm quê hương, đất nước của con nuôi là người Việt Nam ở nước ngoài; bảo đảm bí mật đời tư cá nhân.
- Ngăn ngừa, xử lý các hành vi tự phát, không tuân thủ pháp luật, gây ra xáo trộn hoặc có nguy cơ gây ra sự mất ổn định xã hội trong hoạt động tìm kiếm thông tin về nguồn gốc, về thăm quê hương, đất nước của con nuôi là người Việt Nam ở nước ngoài.
- Tăng cường sự gắn bó giữa con nuôi là người Việt Nam ở nước ngoài và nhà nước Việt Nam; thúc đẩy sự hợp tác, quan hệ tốt đẹp giữa Việt Nam và các nước; quảng bá hình ảnh đất nước Việt Nam thân thiện, nhân ái, đề cao giá trị nhân văn của chính sách nuôi con nuôi quốc tế.
- Bám sát Kế hoạch triển khai Quyết định số 188/QĐ-BTP ngày 19 tháng 01 năm 2026 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Kế hoạch triển khai Quyết định số 2696/QĐ-TTg ngày 11 tháng 12 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai Bộ Công cụ ngăn ngừa và xử lý các hành vi không tuân thủ pháp luật trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế giai đoạn 2026 - 2030.
- Tổ chức thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ của Bộ Tư pháp liên quan đến hoạt động nuôi con nuôi quốc tế, hoạt động tìm kiếm thông tin về nguồn gốc, về thăm quê hương, đất nước.
- Bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị thuộc Bộ, các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp, Sở Tư pháp và các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc thực hiện các nhiệm vụ triển khai Đề án.
III. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1. Rà soát, hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật, tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết yêu cầu tìm kiếm thông tin về nguồn gốc của con nuôi cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho con nuôi là người Việt Nam ở nước ngoài về thăm quê hương, đất nước.
2. Đẩy mạnh công tác truyền thông, nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức về các chủ trương, chính sách của Đảng, quy định của pháp luật về nuôi con nuôi nói chung cũng như hoạt động hỗ trợ con nuôi là người Việt Nam ở nước ngoài tìm kiếm thông tin về nguồn gốc, về thăm quê hương, đất nước.
Nghiên cứu, tham mưu, đề ra các giải pháp cụ thể thiết thực, hiệu quả, gắn trách nhiệm của Bộ Tư pháp và các cơ quan, đơn vị có liên quan trong việc triển khai Đề án.
- Đơn vị chủ trì: Cục Hành chính tư pháp.
- Đơn vị phối hợp: Các đơn vị thuộc Bộ, các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp, Sở Tư pháp, các cơ quan báo chí, truyền thông và các cơ quan, tổ chức có liên quan.
- Hình thức tổ chức: Các hoạt động truyền thông.
- Thời gian thực hiện: Năm 2027 và các năm tiếp theo.
- Sản phẩm: Ấn phẩm được xuất bản, bài viết, bản tin, báo cáo tọa đàm, áp phích, website, video, sản phẩm truyền thông khác...
- Đơn vị chủ trì: Cục Hành chính tư pháp.
- Đơn vị phối hợp: Các đơn vị thuộc Bộ, các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp, Sở Tư pháp, cơ quan đại diện và các cơ quan, tổ chức có liên quan.
- Hình thức tổ chức: Rà soát, tổng hợp, dịch tài liệu, tổ chức đoàn khảo sát, học tập kinh nghiệm một số nước.
- Thời gian thực hiện: Năm 2027 và các năm tiếp theo.
- Sản phẩm: Báo cáo kết quả rà soát, tổng hợp, tài liệu dịch của nước ngoài sang tiếng Việt, báo cáo kết quả khảo sát.
- Đơn vị chủ trì: Cục Hành chính tư pháp.
- Đơn vị phối hợp: Các đơn vị thuộc Bộ, các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp, Sở Tư pháp và các cơ quan, tổ chức có liên quan.
- Hình thức tổ chức: Tổng hợp thông tin, số liệu, tổ chức đoàn công tác tại một số địa phương, tọa đàm, nhập dữ liệu, số hóa.
- Thời gian thực hiện: Năm 2027 và các năm tiếp theo.
- Sản phẩm: Báo cáo kết quả tổng hợp thông tin, số liệu, các chuyến công tác, báo cáo kết quả khảo sát, tọa đàm, kết quả nhập dữ liệu, số hóa.
- Đơn vị chủ trì: Cục Hành chính tư pháp.
- Đơn vị phối hợp: Các đơn vị thuộc Bộ, các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp, Sở Tư pháp và các cơ quan, tổ chức có liên quan.
- Hình thức tổ chức: Nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn về cơ chế, quy trình hỗ trợ con nuôi là người Việt Nam ở nước ngoài tìm kiếm thông tin về nguồn gốc, về thăm quê hương, đất nước.
- Thời gian thực hiện: Năm 2026 - năm 2030.
- Sản phẩm: Thông tư hướng dẫn về cơ chế, quy trình hỗ trợ con nuôi là người Việt Nam ở nước ngoài tìm kiếm thông tin về nguồn gốc, về thăm quê hương, đất nước được ban hành.
- Đơn vị chủ trì: Cục Hành chính tư pháp.
- Đơn vị phối hợp: Các đơn vị thuộc Bộ, các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp, Sở Tư pháp, cơ quan đại diện, tổ chức con nuôi nước ngoài và các cơ quan, tổ chức có liên quan.
- Hình thức tổ chức: Tổ chức hội nghị, sự kiện.
- Thời gian thực hiện: Hằng năm.
- Sản phẩm: Báo cáo kết quả tổ chức, tham dự hội nghị, sự kiện.
- Đơn vị chủ trì: Cục Hành chính tư pháp.
- Đơn vị phối hợp: Vụ Hợp tác quốc tế và các đơn vị thuộc Bộ có liên quan, các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp, Sở Tư pháp, cơ quan đại diện và các cơ quan, tổ chức có liên quan.
- Hình thức thực hiện: Trao đổi, chia sẻ thông tin; thực hiện hiệu quả vai trò Cơ quan trung ương về nuôi con nuôi quốc tế của Việt Nam.
- Thời gian thực hiện: Hằng năm.
- Sản phẩm: Văn bản trao đổi, chia sẻ thông tin, các hoạt động của Cơ quan trung ương về nuôi con nuôi quốc tế của Việt Nam được thực hiện hiệu quả.
a) Cục Hành chính tư pháp căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao, chủ động tổ chức thực hiện các nội dung được phân công trong Đề án này một cách hiệu quả, đúng tiến độ, thường xuyên theo dõi, đánh giá kết quả thực hiện; bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các cơ quan, đơn vị có liên quan trong quá trình thực hiện; đề xuất phương án xử lý các khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện Đề án, báo cáo Lãnh đạo Bộ xem xét, quyết định.
b) Các đơn vị thuộc Bộ, các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp, Sở Tư pháp và các cơ quan, tổ chức có liên quan trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm phối hợp thực hiện các nội dung của Đề án này.
a) Kinh phí bảo đảm thực hiện Đề án được bố trí từ nguồn ngân sách nhà nước của Bộ Tư pháp và các nguồn kinh phí hợp pháp khác (nếu có) theo quy định của pháp luật.
b) Cục Hành chính tư pháp có trách nhiệm xây dựng dự toán để thực hiện theo đúng quy định.
c) Cục Kế hoạch - Tài chính có trách nhiệm tổng hợp, trình cơ quan có thẩm quyền bố trí kinh phí từ ngân sách nhà nước bảo đảm cho việc triển khai các hoạt động đề ra trong Kế hoạch./.
KẾT QUẢ
GIẢI QUYẾT NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI GIAI ĐOẠN 2011-2025
(TÍNH THEO NĂM)
|
STT |
Thời gian |
Tổng số |
Theo độ tuổi trẻ em được nhận làm con nuôi |
Theo nơi cư trú của trẻ em được nhận làm con nuôi |
||||||||
|
Dưới 01 tuổi |
Từ 01 đến dưới 05 tuổi |
Từ 5 tuổi đến dưới 10 tuổi |
Từ 10 tuổi trở lên |
Cơ sở nuôi dưỡng |
Gia đình |
|||||||
|
Nam |
Nữ |
Nam |
Nữ |
Nam |
Nữ |
Nam |
Nữ |
|||||
|
|
Tổng |
4,879 |
434 |
530 |
1,004 |
991 |
336 |
310 |
570 |
704 |
3,406 |
1,473 |
|
1 |
Năm 2011 |
66 |
2 |
3 |
20 |
14 |
1 |
5 |
5 |
16 |
42 |
24 |
|
2 |
Năm 2012 |
298 |
5 |
5 |
89 |
100 |
23 |
11 |
29 |
36 |
217 |
81 |
|
3 |
Năm 2013 |
334 |
1 |
2 |
110 |
135 |
20 |
16 |
26 |
24 |
274 |
60 |
|
4 |
Năm 2014 |
498 |
11 |
30 |
144 |
164 |
27 |
11 |
57 |
54 |
378 |
120 |
|
5 |
Năm 2015 |
575 |
98 |
139 |
72 |
67 |
33 |
29 |
65 |
72 |
415 |
160 |
|
6 |
Năm 2016 |
551 |
113 |
138 |
73 |
64 |
15 |
22 |
62 |
64 |
410 |
141 |
|
7 |
Năm 2017 |
539 |
95 |
101 |
82 |
71 |
25 |
31 |
57 |
77 |
389 |
150 |
|
8 |
Năm 2018 |
430 |
52 |
58 |
75 |
69 |
36 |
34 |
45 |
61 |
302 |
128 |
|
9 |
Năm 2019 |
359 |
21 |
25 |
85 |
60 |
24 |
32 |
50 |
62 |
228 |
131 |
|
10 |
Năm 2020 |
246 |
18 |
13 |
60 |
51 |
16 |
22 |
39 |
27 |
156 |
90 |
|
11 |
Năm 2021 |
160 |
13 |
10 |
40 |
42 |
15 |
14 |
12 |
14 |
128 |
32 |
|
12 |
Năm 2022 |
170 |
5 |
6 |
42 |
37 |
21 |
15 |
20 |
24 |
115 |
55 |
|
13 |
Năm 2023 |
248 |
0 |
0 |
56 |
57 |
23 |
24 |
35 |
53 |
158 |
90 |
|
14 |
Năm 2024 |
216 |
0 |
0 |
32 |
43 |
34 |
22 |
30 |
55 |
127 |
89 |
|
15 |
Năm 2025 |
189 |
0 |
0 |
24 |
17 |
23 |
22 |
38 |
65 |
67 |
122 |
KẾT QUẢ GIẢI QUYẾT NUÔI CON NUÔI
CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI GIAI ĐOẠN 2011-2025
(TÍNH THEO QUỐC GIA)
|
STT |
Quốc gia |
Tổng |
Chia theo độ tuổi của trẻ em khi được nhận làm con nuôi |
Chia theo tình trạng sức khỏe của trẻ em được nhận làm con nuôi |
Chia theo nơi cư trú của trẻ em trước khi được nhận làm con nuôi |
|||||||||
|
Dưới 01 tuổi |
Từ 01 đến dưới 05 tuổi |
Từ 05 đến dưới 10 tuổi |
Trên 10 tuổi |
Bình thường |
Trẻ em có nhu cầu đặc biệt |
Cơ sở nuôi dưỡng |
Gia đình |
|||||||
|
Nam |
Nữ |
Nam |
Nữ |
Nam |
Nữ |
Nam |
Nữ |
|||||||
|
|
TỔNG |
4879 |
434 |
530 |
1004 |
992 |
336 |
310 |
570 |
704 |
2544 |
2335 |
3406 |
1473 |
|
1 |
Pháp |
818 |
85 |
128 |
252 |
220 |
41 |
39 |
28 |
25 |
234 |
584 |
774 |
44 |
|
2 |
Tây Ban Nha |
930 |
153 |
177 |
249 |
221 |
86 |
34 |
7 |
3 |
355 |
575 |
930 |
0 |
|
3 |
I-ta-li-a |
805 |
100 |
132 |
218 |
216 |
59 |
61 |
9 |
10 |
233 |
572 |
790 |
15 |
|
4 |
Ai-len |
174 |
27 |
22 |
66 |
55 |
3 |
0 |
0 |
1 |
53 |
121 |
173 |
1 |
|
5 |
Ca-na-da |
347 |
30 |
31 |
108 |
133 |
15 |
14 |
8 |
8 |
94 |
253 |
327 |
20 |
|
6 |
Thụy Sỹ |
14 |
0 |
5 |
4 |
4 |
0 |
0 |
0 |
1 |
9 |
5 |
13 |
1 |
|
7 |
Thụy Điển |
60 |
10 |
10 |
19 |
13 |
6 |
0 |
1 |
1 |
17 |
43 |
53 |
7 |
|
8 |
Đan Mạch |
23 |
3 |
3 |
9 |
7 |
0 |
0 |
0 |
1 |
17 |
6 |
22 |
1 |
|
9 |
Na uy |
11 |
3 |
1 |
3 |
4 |
0 |
0 |
0 |
0 |
6 |
5 |
11 |
0 |
|
10 |
Đức |
61 |
7 |
4 |
5 |
9 |
7 |
2 |
14 |
14 |
45 |
16 |
22 |
39 |
|
11 |
Hoa Kỳ |
204 |
4 |
2 |
34 |
48 |
36 |
44 |
15 |
21 |
101 |
103 |
201 |
3 |
|
12 |
Niu-di-lân |
5 |
0 |
0 |
1 |
0 |
0 |
1 |
2 |
1 |
4 |
1 |
1 |
4 |
|
13 |
Bỉ |
14 |
0 |
1 |
5 |
6 |
1 |
1 |
0 |
0 |
8 |
6 |
14 |
0 |
|
14 |
Lúc-xăm-bua |
19 |
5 |
4 |
4 |
3 |
2 |
1 |
0 |
0 |
8 |
11 |
19 |
0 |
|
15 |
Man-ta |
8 |
0 |
0 |
4 |
3 |
0 |
1 |
0 |
0 |
8 |
0 |
7 |
1 |
|
16 |
Áo |
4 |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
4 |
4 |
0 |
0 |
4 |
|
17 |
Anh |
55 |
4 |
4 |
6 |
11 |
3 |
6 |
7 |
14 |
40 |
15 |
26 |
29 |
|
18 |
Ba Lan |
1 |
0 |
0 |
0 |
1 |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
1 |
1 |
0 |
|
19 |
Đài Loan |
1179 |
0 |
1 |
12 |
24 |
68 |
79 |
451 |
544 |
1179 |
0 |
0 |
1179 |
|
20 |
Hàn Quốc |
88 |
0 |
0 |
1 |
3 |
6 |
16 |
19 |
43 |
88 |
0 |
0 |
88 |
|
21 |
Úc |
17 |
2 |
2 |
2 |
5 |
1 |
5 |
0 |
0 |
8 |
9 |
12 |
5 |
|
22 |
Hà Lan |
4 |
0 |
0 |
0 |
2 |
0 |
1 |
0 |
1 |
2 |
2 |
3 |
1 |
|
23 |
Hun-ga-ry |
1 |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
1 |
1 |
0 |
0 |
1 |
|
24 |
Nhật Bản |
14 |
1 |
2 |
1 |
1 |
1 |
1 |
2 |
5 |
12 |
2 |
2 |
12 |
|
25 |
Tiệp Khắc |
2 |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
2 |
0 |
2 |
0 |
0 |
2 |
|
26 |
Xlô-va-ki-a |
2 |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
2 |
0 |
2 |
0 |
0 |
2 |
|
27 |
Ru-ma-ni |
2 |
0 |
0 |
0 |
0 |
1 |
0 |
0 |
1 |
2 |
0 |
0 |
2 |
|
28 |
Phần Lan |
4 |
0 |
1 |
0 |
0 |
0 |
0 |
1 |
2 |
3 |
1 |
1 |
3 |
|
29 |
Ma-lay-si-a |
2 |
0 |
0 |
0 |
1 |
0 |
1 |
0 |
0 |
1 |
1 |
1 |
1 |
|
30 |
I-xra-en |
2 |
0 |
0 |
0 |
2 |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
2 |
2 |
0 |
|
31 |
Bungari |
4 |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
1 |
3 |
4 |
0 |
0 |
4 |
|
32 |
Phi-lip-pin |
1 |
0 |
0 |
1 |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
1 |
1 |
0 |
|
33 |
Liên bang Nga |
3 |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
2 |
1 |
0 |
3 |
0 |
0 |
3 |
|
34 |
Xing-ga-po |
1 |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
1 |
0 |
0 |
1 |
0 |
0 |
1 |
|
STT |
Quốc gia |
Tổ chức |
Thời gian về thăm |
Số lượng gia đình |
Số lượng người |
|
TỔNG |
263 gia đình |
869 |
|||
|
1 |
Ai-len |
Helping Hands |
Tổng |
80 gia đình |
270 |
|
2019 |
30 gia đình |
100 |
|||
|
2023 |
10 gia đình |
30 |
|||
|
2024 |
15 gia đình |
50 |
|||
|
2025 |
10 gia đình |
35 |
|||
|
2026 |
15 gia đình |
55 |
|||
|
2 |
Ca-na-đa |
Sunrise |
Tổng |
5 gia đình |
12 |
|
2023 |
1 gia đình |
3 |
|||
|
2024 |
4 gia đình |
9 |
|||
|
3 |
Hoa Kỳ |
Holt |
Tổng |
27 gia đình |
81 |
|
2019 |
13 gia đình |
34 |
|||
|
2023 |
4 gia đình |
13 |
|||
|
2024 |
5 gia đình |
17 |
|||
|
2025 |
4 gia đình |
11 |
|||
|
2026 |
3 gia đình |
6 |
|||
|
4 |
I-ta-li-a |
ACAP |
Tổng |
2 gia đình |
6 |
|
2024 |
2 gia đình |
6 |
|||
|
5 |
AFN |
Tổng |
33 gia đình |
104 |
|
|
2022 |
7 gia đình |
17 |
|||
|
2023 |
2 gia đình |
7 |
|||
|
2024 |
12 gia đình |
38 |
|||
|
2025 |
8 gia đình |
27 |
|||
|
6 |
2026 |
4 gia đình |
15 |
||
|
Ariete |
Tổng |
60 gia đình |
229 |
||
|
2020 |
9 gia đình |
33 |
|||
|
2021 |
12 gia đình |
40 |
|||
|
2022 |
10 gia đình |
36 |
|||
|
2023 |
7 gia đình |
28 |
|||
|
2024 |
8 gia đình |
22 |
|||
|
2025 |
12 gia đình |
36 |
|||
|
2026 |
10 gia đình |
34 |
|||
|
7 |
Pháp |
FEP |
Tổng |
29 gia đình |
82 |
|
2022 |
2 gia đình |
6 |
|||
|
2023 |
4 gia đình |
13 |
|||
|
2024 |
6 gia đình |
16 |
|||
|
2025 |
8 gia đình |
23 |
|||
|
2026 |
9 gia đình |
24 |
|||
|
8 |
Cofa |
Tổng |
9 gia đình |
29 |
|
|
2023 |
2 gia đình |
6 |
|||
|
2024 |
3 gia đình |
9 |
|||
|
2025 |
3 gia đình |
11 |
|||
|
2026 |
1 gia đình |
3 |
|||
|
9 |
Tây Ban Nha |
Adecop |
Tổng |
2 gia đình |
7 |
|
2019 |
1 gia đình |
2 |
|||
|
2023 |
2 gia đình |
5 |
|||
|
10 |
CJ |
Tổng |
4 gia đình |
12 |
|
|
2020-2025 |
4 gia đình |
12 |
|||
|
11 |
IPI |
Tổng |
5 gia đình |
16 |
|
|
2024 |
3 gia đình |
10 |
|||
|
2025 |
2 gia đình |
6 |
|||
|
12 |
NINOS |
2024 |
1 gia đình |
8 |
|
|
13 |
Thụy Điển |
Trước đây là tổ chức AC |
Tổng |
7 gia đình |
21 |
|
2025 |
7 gia đình |
21 |
|||
Đăng xuất
Việc làm Hồ Chí Minh