Quyết định 2162/QĐ-UBND năm 2025 phê duyệt Đề án chăm sóc sức khỏe toàn diện cho người dân Thành phố Hồ Chí Minh và giải pháp góp phần làm tăng tổng tỷ suất sinh giai đoạn 2025-2030
| Số hiệu | 2162/QĐ-UBND |
| Ngày ban hành | 26/05/2025 |
| Ngày có hiệu lực | 26/05/2025 |
| Loại văn bản | Quyết định |
| Cơ quan ban hành | Thành phố Hồ Chí Minh |
| Người ký | Trần Thị Diệu Thúy |
| Lĩnh vực | Thể thao - Y tế,Văn hóa - Xã hội |
|
ỦY BAN NHÂN DÂN
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 2162/QĐ-UBND |
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 26 tháng 5 năm 2025 |
CHỦ TỊCH ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Căn cứ Luật về Tổ chức chính quyền địa phương số 65/2025/QH15 ngày 19 tháng 02 năm 2025;
Căn cứ Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới;
Căn cứ Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới;
Căn cứ Nghị quyết số 139/NQ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2017 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương đảng khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới;
Căn cứ Quyết định số 641/QĐ-TTg ngày 28 tháng 4 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011-2030;
Căn cứ Quyết định số 1092/QĐ-TTg ngày 02 tháng 9 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình sức khỏe Việt Nam;
Căn cứ Quyết định số 1679/QĐ-TTg ngày 22 tháng 11 năm 2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030;
Căn cứ Quyết định số 588/QĐ-TTg ngày 28 tháng 4 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “Chương trình điều chỉnh mức sinh phù hợp các vùng, đối tượng đến năm 2030;
Căn cứ Quyết định số 1999/QĐ-TTg ngày 07 tháng 12 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt duyệt Chương trình mở rộng tầm soát, chẩn đoán, điều trị một số bệnh, tật trước sinh và sơ sinh đến năm 2030;
Căn cứ Quyết định số 23/QĐ-TTg ngày 07 tháng 01 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2021-2030;
Căn cứ Quyết định số 89/QĐ-TTg ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045;
Căn cứ Quyết định số 1807/QĐ-BYT ngày 21 tháng 4 năm 2020 của Bộ Y tế về việc ban hành hướng dẫn về chuyên môn kỹ thuật trong sàng lọc, chẩn đoán, điều trị trước sinh và sơ sinh;
Căn cứ Quyết định số 2539/QĐ-BYT ngày 24 tháng 5 năm 2021 của Bộ Y tế về việc ban hành Kế hoạch hành động thực hiện chương trình mở rộng, tầm soát, chẩn đoán, điều trị một số bệnh, tật trước sinh và sơ sinh đến năm 2030;
Căn cứ Quyết định số 5175/QĐ-BYT ngày 09 tháng 11 năm 2021 của Bộ Y tế về việc phê duyệt tài liệu hướng dẫn triển khai phòng vắt, trữ sữa mẹ tại nơi làm việc;
Căn cứ Quyết định số 1862/QĐ-BYT ngày 06 tháng 7 năm 2022 của Bộ Y tế về việc Ban hành tài liệu hướng dẫn chẩn đoán và can thiệp trẻ có rối loạn phổ tự kỷ;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở Y tế tại Tờ trình số 4608/TTr-SYT ngày 05 tháng 5 năm 2025.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Đề án chăm sóc sức khỏe toàn diện cho người dân Thành phố và một số giải pháp góp phần làm tăng tổng tỷ suất sinh giai đoạn 2025-2030.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.
Điều 3. Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân Thành phố, Giám đốc Sở Y tế, Thủ trưởng các sở, ban, ngành Thành phố và các cơ quan, đơn vị có liên quan, Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện, thành phố Thủ Đức, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường, xã chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
|
KT. CHỦ TỊCH |
CHĂM SÓC SỨC KHỎE TOÀN DIỆN CHO NGƯỜI DÂN THÀNH PHỐ VÀ MỘT SỐ
GIẢI PHÁP GÓP PHẦN LÀM TĂNG TỔNG TỶ SUẤT SINH GIAI ĐOẠN 2025-2030
(Kèm theo Quyết định số 2162/QĐ-UBND ngày 26 tháng 5 năm 2025 của Ủy ban
nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh)
|
ỦY BAN NHÂN DÂN
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 2162/QĐ-UBND |
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 26 tháng 5 năm 2025 |
CHỦ TỊCH ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Căn cứ Luật về Tổ chức chính quyền địa phương số 65/2025/QH15 ngày 19 tháng 02 năm 2025;
Căn cứ Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới;
Căn cứ Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới;
Căn cứ Nghị quyết số 139/NQ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2017 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương đảng khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới;
Căn cứ Quyết định số 641/QĐ-TTg ngày 28 tháng 4 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011-2030;
Căn cứ Quyết định số 1092/QĐ-TTg ngày 02 tháng 9 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình sức khỏe Việt Nam;
Căn cứ Quyết định số 1679/QĐ-TTg ngày 22 tháng 11 năm 2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030;
Căn cứ Quyết định số 588/QĐ-TTg ngày 28 tháng 4 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “Chương trình điều chỉnh mức sinh phù hợp các vùng, đối tượng đến năm 2030;
Căn cứ Quyết định số 1999/QĐ-TTg ngày 07 tháng 12 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt duyệt Chương trình mở rộng tầm soát, chẩn đoán, điều trị một số bệnh, tật trước sinh và sơ sinh đến năm 2030;
Căn cứ Quyết định số 23/QĐ-TTg ngày 07 tháng 01 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2021-2030;
Căn cứ Quyết định số 89/QĐ-TTg ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045;
Căn cứ Quyết định số 1807/QĐ-BYT ngày 21 tháng 4 năm 2020 của Bộ Y tế về việc ban hành hướng dẫn về chuyên môn kỹ thuật trong sàng lọc, chẩn đoán, điều trị trước sinh và sơ sinh;
Căn cứ Quyết định số 2539/QĐ-BYT ngày 24 tháng 5 năm 2021 của Bộ Y tế về việc ban hành Kế hoạch hành động thực hiện chương trình mở rộng, tầm soát, chẩn đoán, điều trị một số bệnh, tật trước sinh và sơ sinh đến năm 2030;
Căn cứ Quyết định số 5175/QĐ-BYT ngày 09 tháng 11 năm 2021 của Bộ Y tế về việc phê duyệt tài liệu hướng dẫn triển khai phòng vắt, trữ sữa mẹ tại nơi làm việc;
Căn cứ Quyết định số 1862/QĐ-BYT ngày 06 tháng 7 năm 2022 của Bộ Y tế về việc Ban hành tài liệu hướng dẫn chẩn đoán và can thiệp trẻ có rối loạn phổ tự kỷ;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở Y tế tại Tờ trình số 4608/TTr-SYT ngày 05 tháng 5 năm 2025.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Đề án chăm sóc sức khỏe toàn diện cho người dân Thành phố và một số giải pháp góp phần làm tăng tổng tỷ suất sinh giai đoạn 2025-2030.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.
Điều 3. Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân Thành phố, Giám đốc Sở Y tế, Thủ trưởng các sở, ban, ngành Thành phố và các cơ quan, đơn vị có liên quan, Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện, thành phố Thủ Đức, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường, xã chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
|
KT. CHỦ TỊCH |
CHĂM SÓC SỨC KHỎE TOÀN DIỆN CHO NGƯỜI DÂN THÀNH PHỐ VÀ MỘT SỐ
GIẢI PHÁP GÓP PHẦN LÀM TĂNG TỔNG TỶ SUẤT SINH GIAI ĐOẠN 2025-2030
(Kèm theo Quyết định số 2162/QĐ-UBND ngày 26 tháng 5 năm 2025 của Ủy ban
nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh)
TỔNG QUAN VỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE NGƯỜI DÂN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
I. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH MẠNG LƯỚI CHĂM SÓC SỨC KHỎE NGƯỜI DÂN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Tính đến thời điểm hiện nay, mạng lưới khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn Thành phố bao gồm 135 bệnh viện (12 bệnh viện thuộc bộ, ngành, 32 bệnh viện Thành phố, 19 bệnh viện quận, huyện và 72 bệnh viện tư nhân), các trung tâm y tế quận, huyện, Thành phố Thủ Đức (trong đó có 04 trung tâm y tế có giường bệnh nội trú), các trạm y tế, hơn 8.000 phòng khám tư nhân cùng với mạng lưới cấp cứu ngoại viện gồm Trung tâm cấp cứu 115 và 43 trạm cấp cứu vệ tinh.
Song song với hệ điều trị, hệ thống y tế dự phòng của Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm Chi cục Dân số, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Thành phố, các phòng y tế, trung tâm y tế quận, huyện, Thành phố Thủ Đức cùng mạng lưới trạm y tế phường, xã, thị trấn cũng phát triển mạnh mẽ và thực hiện tốt công tác dự phòng như cảnh báo, phát hiện, kiểm soát dịch bệnh, triển khai các chương trình chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe trẻ em, tiêm chủng mở rộng và nhiều hoạt động phòng bệnh khác. Ngoài ra, còn có Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh, Viện Y tế Công cộng Thành phố Hồ Chí Minh và các cơ quan, văn phòng đại diện của Bộ Y tế cùng phối hợp chặt chẽ và hiệu quả với hệ thống y tế Thành phố Hồ Chí Minh trong công tác phòng, chống dịch, bệnh truyền nhiễm; bệnh không lây nhiễm; phòng, chống tác động của các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng tới sức khỏe; quản lý sức khỏe cộng đồng; khám phát hiện, điều trị dự phòng.
Đối với hoạt động Sản Nhi: Thành phố có 02 bệnh viện chuyên khoa Phụ Sản với trên 2.000 giường, 03 bệnh viện chuyên khoa Nhi với khoảng 4.000 giường bệnh dành cho trẻ em từ sơ sinh đến 16 tuổi với đầy đủ các dịch vụ chẩn đoán, điều trị và chăm sóc toàn diện từ cơ bản đến chuyên sâu. Với năng lực hiện tại, các bệnh viện chuyên khoa Phụ Sản, Nhi tại Thành phố Hồ Chí Minh không những đáp ứng được nhu cầu điều trị và chăm sóc sức khỏe phụ nữ mang thai, trẻ em cho Thành phố Hồ Chí Minh mà còn cho cả khu vực phía Nam và một số tỉnh duyên hải miền Trung. Hợp tác giữa các bệnh viện chuyên khoa Nhi và chuyên khoa Phụ Sản trong phát triển chuyên sâu về can thiệp bệnh lý sơ sinh trong giai đoạn bào thai và ngay sau sinh là nhằm làm giảm tỷ lệ tử vong chu sinh nói riêng và trẻ em dưới 01 tuổi nói chung, đồng thời nâng cao chất lượng cuộc sống của trẻ em, đặc biệt là các trẻ sinh non hoặc mắc các dị tật bẩm sinh. Hiện nay, các bệnh viện chuyên khoa Nhi đã chủ động triển khai các dự án hợp tác song phương nhằm cải thiện hơn nữa việc chuyển viện không an toàn, chẩn đoán tiền sản, sàng lọc dị tật bẩm sinh, can thiệp ngay trong giai đoạn bào thai (thông tim xuyên tử cung) hoặc ngay tại phòng sinh (thủ thuật EXIT). Ngoài ra, các bệnh viện chuyên khoa Nhi (Bệnh viện Nhi Đồng 1) còn phối hợp với các bệnh viện chuyên khoa Phụ Sản (Bệnh viện Từ Dũ, Bệnh viện Hùng Vương) trong khám tầm soát và điều trị bệnh lý võng mạc do sinh non. Các hoạt động hợp tác hiệu quả này cần được tiếp tục triển khai nhân rộng.
Đối với việc tích hợp và kết nối dữ liệu tại các bệnh viện chuyên khoa Nhi, Phụ Sản và các hoạt động hợp tác giữa bệnh viện chuyên khoa Nhi với các đối tác như bệnh viện Phụ Sản, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Thành phố… đang được triển khai nhưng chưa đầy đủ hoặc chưa đồng bộ. Ví dụ: việc kết nối và đồng bộ dữ liệu của 03 hệ thống PACS, HIS và LIS tại mỗi bệnh viện hiện nay còn gặp nhiều thách thức; kết nối dữ liệu tiêm chủng trẻ em vào hệ thống HIS của các bệnh viện Nhi; xây dựng dữ liệu số về theo dõi định kỳ sức khỏe trẻ em…
II. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC CỦA THÀNH PHỐ TRONG HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC SỨC KHỎE NGƯỜI DÂN
1. Nâng cao chất lượng dân số và điều chỉnh mức sinh
Quy mô dân số Thành phố tính đến cuối năm 2024 là 9.521.886 người; tỷ suất sinh thô năm 2024 là: 12,22‰, tăng so với năm 2023 (12,15‰).
Tổng tỷ suất sinh tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2024 là 1,39 con, thấp hơn rất nhiều so với mức 1,91 con của cả nước. Thống kê số liệu từ năm 2000 đến nay cho thấy, tổng tỷ suất sinh của Thành phố liên tục giảm (năm 2000 là 1,76; năm 2023 là 1,32), xuống rất thấp vào năm 2016 là 1,24, xu hướng khôi phục theo hướng tăng xảy ra rất ít ở thời điểm năm 2013 là 1,68.
Hàng năm, Thành phố đều đạt và vượt chỉ tiêu tăng tỷ lệ thanh niên nam, nữ chuẩn bị kết hôn tham gia tư vấn và khám sức khỏe trước khi kết hôn. Cụ thể, trong năm 2024 đã vận động 1.469 cặp nam, nữ thanh niên sắp kết hôn thực hiện khám sức khỏe trước khi kết hôn, vượt 10% chỉ tiêu kế hoạch đề ra.
2. Chăm sóc quản lý sức khỏe phụ nữ mang thai, sàng lọc trước sinh và sàng lọc sơ sinh
Quản lý thai là một trong những nội dung quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, góp phần giảm tỷ lệ tử vong mẹ và tử vong sơ sinh.
Những nội dung quan trọng trong quản lý thai kỳ bao gồm: khám thai định kỳ, sàng lọc tiền sản giật, sàng lọc trước sinh, tiêm chủng, tư vấn chăm sóc thai kỳ và dinh dưỡng. Điều này sẽ giúp nhân viên y tế phân loại thai kỳ bình thường, thai kỳ nguy cơ cao để có kế hoạch chăm sóc và can thiệp kịp thời. Theo báo cáo thống kê từ hệ thống thống kê y tế của Bộ Y tế, tại Thành phố Hồ Chí Minh, từ năm 2020 - 2023 tỷ lệ phụ nữ mang thai khám thai ít nhất 03 lần/ thai kỳ đều đạt trên 95%, tuy nhiên khám thai ít nhất 04 lần/ thai kỳ thì chỉ đạt dưới 90%.
Tại Thành phố Hồ Chí Minh, hoạt động tầm soát, chẩn đoán, điều trị một số bệnh, tật trước sinh và sơ sinh (sàng lọc trước sinh và sàng lọc sơ sinh) đã được triển khai thí điểm từ năm 2011. Thực hiện sàng lọc trước sinh và sàng lọc sơ sinh giúp cho trẻ sinh ra phát triển bình thường hoặc tránh được những hậu quả nặng nề do dị tật bẩm sinh gây ra, giảm thiểu số người tàn tật, thiểu năng trí tuệ trong cộng đồng, góp phần nâng cao chất lượng dân số.
- Sàng lọc trước sinh là việc sử dụng các biện pháp thăm dò đặc hiệu để đánh giá nguy cơ mắc hội chứng Down, Trisomy 13 và Trisomy 18 kết hợp tầm soát bệnh Thalassemia thai nhi bằng xét nghiệm huyết đồ của bố mẹ, những thai phụ thuộc nhóm nguy cơ cao sẽ được bác sĩ tư vấn sinh thiết gai nhau hoặc xét nghiệm dịch ối để chẩn đoán bệnh lý, từ đó bác sĩ tư vấn cho thai phụ và gia đình hướng điều trị. Tất cả các trường hợp nghi ngờ bất thường đều được tư vấn, hướng dẫn quy trình để tiến hành chẩn đoán xác định và điều trị phù hợp. Hoạt động can thiệp, tác động vào quá trình phát hiện và điều trị sớm các bệnh, tật, các rối loạn chuyển hóa, di truyền ngay trong giai đoạn bào thai và sơ sinh; giúp trẻ sinh ra bình thường hoặc tránh được những hậu quả nặng nề về thể chất và trí tuệ, giảm số người tàn tật, thiểu năng trí tuệ trong cộng đồng. Trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020, toàn Thành phố đã thực hiện sàng lọc trước sinh cho 283.488 phụ nữ mang thai, số trường hợp được chẩn đoán xác định bệnh sớm ngay trong giai đoạn bào thai là 11.753 chiếm tỷ lệ 4,15%. Những thai phụ thuộc nhóm nguy cơ cao được bác sĩ tư vấn sinh thiết gai nhau hoặc xét nghiệm dịch ối để chẩn đoán bệnh lý, từ đó bác sĩ tư vấn cho thai phụ và gia đình hướng điều trị nhằm giảm gánh nặng cho gia đình và xã hội. Tỷ lệ phụ nữ mang thai được sàng lọc trước sinh hàng năm đạt 86,1%.
- Sàng lọc sơ sinh: việc sàng lọc sơ sinh phát hiện sớm các bệnh rối loạn chuyển hóa hiện nay chỉ cần lấy 3-5 giọt máu ở gót chân của bé vào thời điểm từ 48 đến 72 giờ sau sinh. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mỗi năm trên thế giới có tới 8 triệu trẻ sơ sinh mắc dị tật bẩm sinh. Tuy nhiên, có thể phòng tránh được những hậu quả nặng nề của dị tật đối với trẻ bằng các biện pháp sàng lọc sơ sinh ngay trong vòng 48 giờ đầu khi trẻ được sinh ra. Trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020, toàn Thành phố đã thực hiện sàng lọc sơ sinh cho 267.160 trẻ, số trường hợp được chẩn đoán xác định mắc bệnh là 1.612 trường hợp, chiếm tỷ lệ 0,44 %. Các trường hợp chẩn đoán xác định được tư vấn giúp can thiệp và điều trị sớm để trẻ có thể có một cuộc sống bình thường.
3. Chăm sóc quản lý sức khỏe trẻ em
Trong những năm qua, Thành phố đã triển khai nhiều hoạt động chuyên môn, kỹ thuật chẩn đoán và điều trị chuyên sâu, hiện đại đã nâng cao chất lượng điều trị, giúp giảm tỷ lệ tử vong và nâng cao chất lượng cuộc sống như tầm soát và điều trị giảm thính lực trên trẻ nguy cơ cao hoặc biến chứng của bệnh, âm ngữ trị liệu, tâm lý trị liệu, phẫu thuật khe hở môi - vòm phối hợp với chỉnh nha… Các hoạt động này cần được triển khai đồng bộ và chuyên sâu hơn nữa.
Hiện nay, 03 bệnh viện chuyên khoa Nhi đang hỗ trợ, phối hợp với Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Thành phố triển khai các chương trình quản lý sức khỏe trẻ em như chương trình xử trí lồng ghép trẻ bệnh (IMCI), khám sức khỏe trẻ em dưới 24 tháng, chăm sóc toàn diện trẻ em trong 05 năm đầu đời và tiêm chủng mở rộng. Hoạt động phối hợp này bước đầu mang lại kết quả tốt khi Thành phố Hồ Chí Minh triển khai các dự án của Bộ Y tế một cách chủ động và hiệu quả.
Nhằm giảm tỷ lệ tử vong chu sinh nói riêng và trẻ em dưới 01 tuổi nói chung, đồng thời nâng cao chất lượng cuộc sống của trẻ em, đặc biệt là trẻ sinh non hoặc mắc các dị tật bẩm sinh, hiện nay các bệnh viện chuyên khoa Nhi đã chủ động triển khai các dự án hợp tác song phương nhằm cải thiện hơn nữa việc chuyển viện không an toàn, chẩn đoán tiền sản, sàng lọc dị tật bẩm sinh, can thiệp ngay trong giai đoạn bào thai (thông tim xuyên tử cung) hoặc ngay tại phòng sanh (thủ thuật EXIT). Ngoài ra Bệnh viện Nhi Đồng 1 còn phối hợp với các bệnh viện chuyên khoa Phụ Sản (Bệnh viện Từ Dũ, Bệnh viện Hùng Vương) trong khám tầm soát và điều trị bệnh lý võng mạc do sanh non. Các hoạt động hợp tác hiệu quả này cần được tiếp tục triển khai.
Bên cạnh đó, việc theo dõi tình trạng dinh dưỡng và đảm bảo cung cấp dinh dưỡng hợp lý cho trẻ em đang được ngành y tế và các cấp chính quyền đặc biệt quan tâm nhằm nâng cao thể trạng và tầm vóc của người dân Thành phố. Hoạt động dinh dưỡng tại Thành phố bao gồm dinh dưỡng trong bệnh viện và dinh dưỡng ngoài cộng đồng được triển khai theo chỉ đạo của Bộ Y tế. Hiện nay, các bệnh viện đã thành lập khoa/tổ Dinh dưỡng và triển khai theo Thông tư số 18/2020/TT-BYT của Bộ Y tế. Công tác dinh dưỡng - tiết chế tiếp tục được triển khai và hoạt động có hiệu quả hơn, đặc biệt tại các bệnh viện đa khoa và chuyên khoa tuyến đầu của Thành phố: 100% bệnh viện tuyến Thành phố có khoa/tổ Dinh dưỡng và 89% bệnh viện tư nhân có khoa/tổ Dinh dưỡng. Công tác sàng lọc, đánh giá tình trạng dinh dưỡng cho người bệnh nội trú được triển khai 98,8% bệnh viện. Tỷ lệ bệnh viện cung cấp suất ăn bệnh lý cho từng đối tượng người bệnh đạt 72,6%.
Tình trạng dinh dưỡng ở cộng đồng đang được cải thiện. Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi, trẻ em lứa tuổi học đường giảm dần theo thời gian và gần như thấp nhất cả nước. Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi và gầy còm ở trẻ dưới 5 tuổi năm 2023 lần lượt là 6,0% và 2,8% thấp hơn so với toàn quốc năm 2020 là 19,6% và 5,2%. Tuy nhiên, tỷ lệ thừa cân, béo phì gia tăng ở các nhóm đối tượng từ trẻ em đến người trưởng thành. Cụ thể, tỷ lệ thừa cân, béo phì ở trẻ dưới 5 tuổi năm 2023 là 11,3% cao hơn so với tỷ lệ toàn quốc năm 2023 là 9,4%. Đồng thời, sự gia tăng các yếu tố nguy cơ gây bệnh không lây như thói quen ăn mặn, ít rau và trái cây, thiếu vận động thể lực ở người trưởng thành so với khuyến nghị cũng là vấn đề tồn tại của Thành phố.
4. Chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục cho vị thành niên, thanh niên
Hiện nay, việc cung cấp thông tin về sức khỏe sinh sản (SKSS), sức khỏe tình dục (SKTD) cho vị thành niên, thanh niên (VTN-TN) vẫn đang sử dụng các cách tiếp cận truyền thống là chính. Việc áp dụng các hình thức truyền thông dựa trên tiến bộ khoa học và công nghệ như tương tác qua mạng xã hội, đường dây nóng, vẫn đang ở qui mô nhỏ và chưa có các bằng chứng thuyết phục về kết quả thay đổi hành vi SKSS, SKTD của VTN-TN. Các chương trình giáo dục SKSS, SKTD trong nhà trường đang được thực hiện thí điểm và cũng chưa cập nhật với nội dung và phương pháp tiếp cận giáo dục giới tính và tình dục toàn diện theo hướng dẫn quốc tế. Các hoạt động truyền thông cung cấp thông tin, tư vấn về SKSS, SKTD VTN-TN tới các đối tượng VTN-TN ngoài nhà trường cũng đã được thực hiện nhưng tổ chức rời rạc, phạm vi hẹp và thiếu tính đồng bộ. Cung cấp thông tin và các dịch vụ về SKSS, SKTD cho các nhóm ưu tiên như nhóm VTN-TN chưa kết hôn, nhóm VTN trong độ tuổi từ 10 đến 14, nhóm VTN-TN khuyết tật, nhóm VTN di cư, nhóm VTN-TN lao động tại các khu công nghiệp và nhóm VTN-TN có xu hướng tính dục khác nhau còn gặp nhiều thách thức.
Qua kết quả điều tra quốc gia về SKSS, SKTD cho thấy ngày nay VTN-TN được thụ hưởng chất lượng cuộc sống cao hơn, có điều kiện tiếp cận thông tin dễ dàng hơn như máy tính và kết nối internet. Tuy nhiên, tình trạng SKSS, SKTD của VTN-TN vẫn đang tồn tại những vấn đề rất đáng quan tâm, cụ thể: độ tuổi trung bình lần quan hệ tình dục đầu tiên ở nhóm vị VTN-TN từ 14 đến 24 tuổi đang dần trẻ hóa là 18,7 tuổi (2017) so với 19,6 tuổi (2010) và hầu hết đều chưa có kiến thức đầy đủ và chưa thực hành đúng về các vấn đề sức khỏe tình dục. Bên cạnh đó, tỷ lệ phá thai ở nhóm trẻ chưa có dấu hiệu giảm, tại Thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ phá thai ở trẻ vị thành niên trên tổng số phá thai là 2% vào năm 2020 và năm 2023 tỷ lệ này là 2,32%, mỗi năm tỷ lệ này dao động trong khoảng 1,8-2,5%. Trẻ vị thành niên vẫn gặp phải nhiều khó khăn khi tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe/sức khỏe sinh sản chất lượng và an toàn.
5. Chăm sóc và nâng cao sức khỏe người lao động, phòng chống bệnh nghề nghiệp
Hiện nay, công tác quản lý sức khỏe người lao động, phòng chống bệnh nghề nghiệp được ưu tiên tập trung ở các đơn vị sản xuất, dịch vụ có nhiều lao động, có yếu tố nguy cơ gây bệnh nghề nghiệp, bao gồm công tác kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật vệ sinh lao động, đo quan trắc môi trường, giám sát yếu tố nguy cơ gây bệnh nghề nghiệp và tình trạng sức khỏe của người lao động.
Ngành y tế Thành phố trong thời gian qua đã triển khai thực hiện đánh giá hiện trạng sức khỏe của người lao động để kịp thời có các biện pháp can thiệp, các chính sách phù hợp, qua đó cải thiện tình hình sức khỏe chung của lực lượng lao động. Một số kết quả đạt được như sau: 89% cơ sở lao động sản xuất có quy mô hơn 50 lao động được thực hiện đo quan trắc môi trường lao động kiểm soát yếu tố nguy cơ gây bệnh nghề nghiệp, và 34% cơ sở lao động sản xuất có quy mô hơn 50 lao động có yếu tố có hại được tổ chức khám phát hiện bệnh nghề nghiệp.
6. Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
Hiện nay, số người cao tuổi tại Thành phố đứng thứ hai cả nước, khiến Thành phố phải đối diện với nhiều thách thức trong bối cảnh “Già hóa Dân số”. Tính đến năm 2023, tỷ lệ người cao tuổi tại Thành phố đã tăng lên 11,33%, với tổng số 1.071.442 người cao tuổi. Trong vòng 6 năm (2017-2023), số lượng người cao tuổi tăng thêm 182.264 người, bình quân mỗi năm tăng gần 30.000 người. Sự gia tăng nhanh chóng này cho thấy tốc độ già hóa tại Thành phố Hồ Chí Minh đang vượt qua các dự báo trước đây, đặt ra yêu cầu cấp thiết về chính sách và hạ tầng y tế, xã hội nhằm đảm bảo chất lượng cuộc sống cho nhóm dân số cao tuổi đang ngày càng đông.
Trong những năm qua, Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện nghiêm túc công tác chăm sóc sức khỏe người cao tuổi theo Điều 12, Điều 13 Luật Người cao tuổi và Thông tư số 35/TT-BYT ngày 15 tháng 10 năm 2011 của Bộ Y tế về hướng dẫn chăm sóc sức khỏe người cao tuổi. Tất cả các đơn vị đều tổ chức khu vực tiếp nhận, khám và điều trị ưu tiên cho người cao tuổi từ 80 tuổi trở lên theo luật quy định. Theo số liệu năm 2024, tại Thành phố có: 13/32 bệnh viện tuyến Thành phố thành lập khoa Lão; 08/32 bệnh viện tuyến Thành phố có đơn vị Lão khoa; 04/19 bệnh viện tuyến quận, huyện có đơn vị Lão khoa.
Từ đầu năm 2024 đến nay, toàn Thành phố có 329.388 người thực hiện khám sức khỏe, phát hiện sớm bệnh không lây nhiễm ở người cao tuổi tại trạm y tế theo mô hình mới. Qua đó, Sở Y tế ghi nhận có 201.544 người cao tuổi (61,6%) bị tăng huyết áp, 25,68% người cao tuổi mắc và nghi ngờ đái tháo đường, 0,26% người cao tuổi có mức độ trầm cảm, lo âu từ vừa đến nặng; 18,3% người cao tuổi có dấu hiệu tiền suy yếu, 1,3% người cao tuổi có dấu hiệu suy yếu; 2,2% người cao tuổi có các hoạt động sống cơ bản hằng ngày (tắm, mặc quần áo, ăn uống, vệ sinh, tiêu tiểu, di chuyển) cần người khác hỗ trợ và 7,9% người cao tuổi có các hoạt động sinh hoạt hàng ngày (khả năng sử dụng điện thoại, mua sắm, chuẩn bị thức ăn, dọn dẹp nhà cửa, giặt giũ.....) cần người khác hỗ trợ. Ngoài ra, cũng nhờ hoạt động khám sức khỏe người cao tuổi, Thành phố đã phát hiện thêm 49.197 người bị tăng huyết áp (15%), 26.375 người nghi ngờ đái tháo đường (8%).
Thành phố tiếp tục duy trì hoạt động của 184 Câu lạc bộ “Người cao tuổi giúp người cao tuổi”, với 5.389 thành viên là người cao tuổi tham gia sinh hoạt, duy trì hoạt động của 184 tổ tình nguyện viên với 2.726 thành viên, giúp đỡ cho hơn 5.248 người cao tuổi già yếu neo đơn, có hoàn cảnh khó khăn tại cộng đồng.
III. NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN, THỬ THÁCH TRONG HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC SỨC KHỎE
1. Thuận lợi
Các bệnh viện chuyên khoa Phụ Sản, Nhi của Thành phố đã duy trì mạng lưới chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em trên địa bàn Thành phố và khu vực phía Nam từ nhiều năm qua.
Trình độ chuyên môn, tay nghề của đội ngũ y, bác sĩ của Thành phố được đánh giá cao, đã làm chủ nhiều kỹ thuật điều trị hiện đại, phức tạp, chất lượng điều trị không thua kém các nước trong khu vực trong khi chi phí lại thấp hơn các nước. Đồng thời, hoạt động nghiên cứu khoa học tại các bệnh viện trên địa bàn Thành phố ngày càng được chú trọng và có chất lượng, nhiều công trình nghiên cứu xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và có giá trị ứng dụng cao.
Tình trạng dinh dưỡng và đảm bảo cung cấp dinh dưỡng hợp lý cho trẻ em đang được ngành y tế và các cấp chính quyền đặc biệt quan tâm nhằm nâng cao thể trạng và tầm vóc của người dân Thành phố. Hiện nay, các bệnh viện quan tâm và triển khai sàng lọc yếu tố nguy cơ dinh dưỡng đồng thời tư vấn, chỉ định chế độ dinh dưỡng bệnh lý phù hợp với tình trạng dinh dưỡng, bệnh lý của bệnh nhân đến khám và điều trị tại bệnh viện. Dinh dưỡng ngoài cộng đồng được các cơ sở y tế triển khai theo chỉ đạo của Bộ Y tế nhằm giảm các trường hợp mắc bệnh liên quan đến dinh dưỡng.
Đối với công tác quản lý sức khỏe người lao động thì ngành y tế ưu tiên tập trung công tác kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật vệ sinh lao động, đo quan trắc môi trường, giám sát yếu tố nguy cơ gây bệnh nghề nghiệp và tình trạng sức khỏe của người lao động ở các đơn vị sản xuất, dịch vụ có nhiều lao động, có yếu tố nguy cơ gây bệnh nghề nghiệp. Đồng thời, luôn triển khai thực hiện đánh giá hiện trạng sức khỏe của người lao động để kịp thời có các biện pháp can thiệp, các chính sách phù hợp, qua đó cải thiện tình hình sức khỏe chung của lực lượng lao động.
Các bệnh viện cấp Thành phố đã chú trọng đầu tư trang thiết bị, đào tạo nhân sự để thành lập khoa Lão. Một số bệnh viện cấp quận, huyện đã thực hiện điều trị các bệnh lý Lão học, thành lập Lão khoa kết hợp với khoa Nội. Tuy chưa đảm bảo 100% cơ sở khám, chữa bệnh triển khai được phòng khám ngoại trú và phòng điều trị nội trú dành riêng cho người cao tuổi, nhưng tất cả các đơn vị đều tổ chức khu vực tiếp nhận, khám và điều trị ưu tiên cho người cao tuổi từ 80 tuổi trở lên theo luật quy định.
2. Khó khăn
Nhận thức của người dân về lợi ích của Chương trình tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn chưa đầy đủ, các nhóm đối tượng chưa chủ động sử dụng dịch vụ. Mạng lưới cung cấp dịch vụ chưa được bao phủ rộng khắp gây hạn chế việc tiếp cận sử dụng dịch vụ của người dân, đặc biệt ở những vùng khó khăn.
Trang thiết bị y tế hiện nay vẫn còn thiếu để đáp ứng yêu cầu nghiên cứu và ứng dụng chẩn đoán chuyên sâu về di truyền, nhất là đối với các bệnh lý như dị tật bẩm sinh, chậm phát triển tâm thần. Đây là những vấn đề phổ biến trong cộng đồng, gây ra gánh nặng lớn cho xã hội, trong khi bản chất di truyền lại rất đa dạng và phức tạp, đòi hỏi kỹ thuật chẩn đoán hiện đại.
Sàng lọc tiền hôn nhân rất cần thiết nhưng chưa triển khai rộng khắp và thống nhất ở các tuyến chăm sóc y tế; Sàng lọc sơ sinh tim bẩm sinh nặng, sàng lọc khiếm thính ở trẻ sơ sinh chưa triển khai rộng rãi ở các cơ sở y tế vì còn thiếu cơ sở vật chất và thiết bị.
Số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác sàng lọc trước sinh và sàng lọc sơ sinh còn thiếu làm ảnh hưởng đến công tác đào tạo, quy hoạch phát triển, nghiên cứu khoa học, triển khai ứng dụng các tiến bộ mới.
Công tác quản lý, theo dõi trẻ dị tật bẩm sinh sau khi phát hiện vẫn chưa được quan tâm, giám sát chặt chẽ làm hạn chế hiệu quả và ý nghĩa xã hội.
Trẻ vị thành niên vẫn gặp phải nhiều khó khăn khi tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe/sức khỏe sinh sản đảm bảo chất lượng.
Công tác chăm sóc sức khỏe người cao tuổi vẫn còn một số hạn chế như: thiếu các dịch vụ chăm sóc tại nhà cho người cao tuổi; Nguồn nhân lực cho chăm sóc sức khỏe người cao tuổi còn chưa được quan tâm phát triển; Chất lượng chăm sóc người cao tuổi còn chưa cao; Thiếu nguồn kinh phí tổ chức các hoạt động chăm sóc sức khỏe người cao tuổi già yếu neo đơn tại cộng đồng.
Chưa có hệ thống phần mềm quản lý chung để có thể tích hợp dữ liệu sức khỏe của từng nhóm thành kho dữ liệu chung cho người dân.
3. Thách thức
Mức sinh thấp và già hóa dân số: Thành phố Hồ Chí Minh hiện đang được xếp trong nhóm 21 tỉnh, Thành phố có mức sinh thấp. Mức sinh thấp sẽ dẫn đến sự thay đổi nhanh chóng về cơ cấu dân số, tốc độ già hóa dân số sẽ diễn ra rất nhanh. Điều này tạo ra áp lực ngày càng tăng đối với hệ thống an sinh xã hội, tác động trực tiếp đến tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên, làm suy giảm nguồn nhân lực đặc biệt là lao động trẻ, ảnh hưởng lâu dài đến sự phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố.
Thay đổi mô hình bệnh tật - gánh nặng kép: sự gia tăng các bệnh mạn tính không lây (tiểu đường, hen suyễn…) trong khi các bệnh truyền nhiễm vẫn còn là gánh nặng, đặc biệt là các bệnh có khả năng phát triển thành dịch như sốt xuất huyết, tay chân miệng, cúm, sởi…
Xu hướng gia tăng tỷ lệ thừa cân-béo phì ở trẻ em lứa tuổi học đường cùng với một số bệnh mạn tính không lây liên quan đến chế độ dinh dưỡng, vận động thể lực. Nhiều hành vi, thói quen ảnh hưởng xấu tới sức khỏe chưa được khắc phục như thói quen ít vận động, sử dụng máy tính nhiều, ăn thức ăn nhanh, nước ngọt có gas, sử dụng thuốc lá, lạm dụng rượu, bia... Bên cạnh đó, có thêm những vấn đề sức khỏe mới phát sinh như già hóa dân số, gánh nặng bệnh mạn tính không lây, tổng tỷ suất sinh thấp, bạo hành và xâm hại trẻ em, các dịch bệnh nguy hiểm mới nổi, tái nổi thường xuyên xuất hiện hơn (cúm A H1N1, đại dịch COVID-19) nhưng chưa có chiến lược và kế hoạch giải quyết căn cơ.
Công tác thông tin, giáo dục truyền thông chưa thật sự hiệu quả. Gánh nặng xã hội và gánh nặng kinh tế do bệnh tật còn chưa được các cấp, các ngành nhận thức đầy đủ. Ý thức chấp hành pháp luật về phòng, chống tác hại thuốc lá, phòng chống tác hại rượu, bia của người dân còn chưa cao. Nhận thức của một bộ phận cộng đồng về nâng cao sức khỏe, phòng, chống yếu tố nguy cơ còn chưa đầy đủ; những hiểu biết về tự theo dõi phát hiện sớm bệnh, chăm sóc, theo dõi và tuân thủ điều trị trong Nhân dân còn hạn chế.
Sự phối hợp đa ngành trong kiểm soát các yếu tố nguy cơ bệnh tật, các chính sách kiểm soát yếu tố nguy cơ chưa đồng bộ, toàn diện và việc tuân thủ chưa tốt (thiếu chính sách tạo điều kiện môi trường thuận lợi cho tăng cường hoạt động thể lực, thể thao quần chúng; chính sách khuyến khích các thực phẩm có lợi cho sức khỏe, hạn chế các thực phẩm không có lợi cho sức khỏe ...). Chưa có một đầu mối tổ chức thống nhất để điều phối, huy động sự tham gia liên ngành trong kiểm soát các yếu tố nguy cơ bệnh tật. Các sở, ngành liên quan chưa phát huy hiệu quả vai trò, trách nhiệm trong thực thi các chính sách của các Bộ, ngành mình để kiểm soát rượu bia, thuốc lá, khuyến khích dinh dưỡng hợp lý và hoạt động thể lực...
Quản lý, chăm sóc và điều trị các bệnh lý, biến chứng liên quan đến sinh non: với sự phát triển và phối hợp Sản - Nhi, ngày càng có nhiều trẻ sinh non hoặc cực non được cứu sống và phát triển bình thường. Tuy nhiên, cũng có không ít trẻ sinh non cần phải tiếp tục được điều trị và chăm sóc vì các biến chứng như: bệnh lý võng mạc (ROP), loạn sản phế quản phổi, khiếm thính, động kinh, chậm phát triển tâm thần, vận động… và các dị tật bẩm sinh đi kèm.
Phát hiện và điều trị trẻ có rối loạn phổ tự kỷ: việc chẩn đoán sớm và chính xác rối loạn phổ tự kỷ ở trẻ em là một quá trình đánh giá, tích hợp thông tin phức tạp, đòi hỏi bác sĩ và những người tham gia chẩn đoán là những người có kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực phát triển nhi khoa và kinh nghiệm làm việc với trẻ có rối loạn phổ tự kỷ. Hiện nay các cơ sở giáo dục đặc biệt dành cho trẻ tự kỷ chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế.
Về nhân lực và cơ sở hạ tầng y tế: ngành Nhi ngoài việc chăm lo sức khỏe cho trẻ em của Thành phố Hồ Chí Minh còn gánh thêm trách nhiệm khám và điều trị cho bệnh nhi đến từ nhiều tỉnh, thành trong cả nước. Hiện tại Thành phố có 03 bệnh viện chuyên khoa Nhi, trong đó 02 bệnh viện Nhi đồng 1 và Nhi đồng 2 ở khu vực trung tâm, bệnh viện Nhi đồng Thành phố ở cửa ngõ phía Tây. Vì vậy, Thành phố cần đầu tư phát triển thêm 01 bệnh viện chuyên khoa Nhi ở cửa ngõ phía đông của Thành phố (Thành phố Thủ Đức). Bên cạnh đó, sự thiếu hụt bác sĩ chuyên khoa Nhi và điều dưỡng có chuyên môn cao dẫn đến chất lượng dịch vụ chưa đáp ứng được nhu cầu trong thời điểm hiện tại và tương lai.
Thành phố còn thiếu các số liệu chuẩn hóa mang tính hệ thống; các cơ sở dữ liệu để theo dõi và dự báo xu hướng, quy mô, sự phân bố của bệnh tật và các yếu tố nguy cơ.
Hệ thống quản lý dữ liệu sức khỏe cộng đồng của Thành phố hiện nay còn chưa đồng bộ, nhiều phần mềm nhưng chưa liên thông…chưa đáp ứng được yêu cầu và đòi hỏi ngày càng cao của người dân.
Việc tiếp cận đầy đủ các dịch vụ tư vấn và chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi còn bị giới hạn, hệ thống chăm sóc sức khỏe chưa bắt kịp với tốc độ già hóa dân số ngày càng tăng. Nhìn chung các hoạt động chăm sóc sức khỏe người cao tuổi còn phân tán, riêng lẻ, chưa mang tính hệ thống và thiếu sự lồng ghép với các chương trình khác liên quan đến người cao tuổi.
IV. SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
Bảo vệ, chăm sóc sức khỏe toàn diện cho Nhân dân là một trong những nhiệm vụ quan trọng và là ưu tiên hàng đầu của Nhà nước ta. Nghị quyết số 20- NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới” (gọi tắt là Nghị quyết số 20-NQ/TW) đã khẳng định mục tiêu không ngừng phấn đấu nâng cao sức khỏe, tầm vóc, tuổi thọ, chất lượng cuộc sống của người Việt Nam; bảo đảm mọi người dân đều được bảo vệ, chăm sóc; được bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tham gia, hưởng thụ bảo hiểm y tế và các dịch vụ có liên quan.
Trước những khó khăn, thách thức ngày càng gia tăng trong bối cảnh mới như mức sinh thấp, già hóa dân số, gánh nặng kép về bệnh tật, sự chuyển đổi mô hình bệnh tật và nhu cầu chăm sóc sức khỏe toàn diện ngày càng cao, yêu cầu đặt ra đối với ngành y tế Thành phố là phải kịp thời có các giải pháp đồng bộ để bảo đảm mọi người dân được sống khỏe mạnh, được quản lý sức khỏe suốt vòng đời, từ đó tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng với chi phí hợp lý.
Để đạt được mục tiêu đó, cần triển khai hiệu quả các hoạt động chăm sóc sức khỏe toàn diện ngay từ giai đoạn đầu đời đến tuổi trưởng thành và tuổi già; đẩy mạnh các biện pháp dự phòng, phát hiện sớm, điều trị kịp thời; tăng cường công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe, khuyến khích lối sống lành mạnh và xây dựng môi trường sống an toàn cho người dân.
Vì vậy, việc xây dựng và triển khai thực hiện Đề án “Chăm sóc sức khỏe toàn diện cho người dân Thành phố và một số giải pháp góp phần làm tăng tổng tỷ suất sinh giai đoạn 2025-2030” là hết sức cần thiết và cấp bách. Đề án không chỉ góp phần bảo đảm mọi người dân trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh được tiếp cận các dịch vụ y tế toàn diện, liên tục, chất lượng cao mà còn tạo tiền đề quan trọng để nâng cao sức khỏe bà mẹ, trẻ em, người lao động và người cao tuổi; góp phần tăng tổng tỷ suất sinh, cải thiện chất lượng dân số và nguồn nhân lực, phục vụ cho sự phát triển bền vững của Thành phố trong tương lai.
V. CƠ SỞ PHÁP LÝ ĐỂ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới;
Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới;
Nghị quyết số 139/NQ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2017 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương đảng khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới;
Quyết định số 641/QĐ-TTg ngày 28 tháng 4 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011 - 2030;
Quyết định số 1092/QĐ-TTg ngày 02 tháng 9 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình sức khỏe Việt Nam;
Quyết định số 1679/QĐ-TTg ngày 22 tháng 11 năm 2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030;
Quyết định số 588/QĐ-TTg ngày 28 tháng 4 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình điều chỉnh mức sinh phù hợp các vùng, đối tượng đến năm 2030;
Quyết định số 659/QĐ-TTg ngày 20 tháng 5 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình chăm sóc và nâng cao sức khỏe người lao động, phòng chống bệnh nghề nghiệp giai đoạn 2020 - 2030;
Quyết định số 1579/QĐ-TTg ngày 13 tháng 10 năm 2020 của Thủ tướng chính phủ về phê duyệt Chương trình Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi đến năm 2030;
Quyết định số 1999/QĐ-TTg ngày 07 tháng 12 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình mở rộng tầm soát, chẩn đoán, điều trị một số bệnh, tật trước sinh và sơ sinh đến năm 2030;
Quyết định số 23/QĐ-TTg ngày 07 tháng 01 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2021-2030;
Quyết định số 89/QĐ-TTg ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045;
Thông tư số 23/2017/TT-BYT ngày 15 tháng 5 năm 2017 của Bộ Y tế về việc hướng dẫn việc lập hồ sơ theo dõi sức khỏe, khám sức khỏe định kỳ theo độ tuổi cho trẻ em; tư vấn chăm sóc sức khỏe và dinh dưỡng;
Quyết định số 1807/QĐ-BYT ngày 21 tháng 4 năm 2020 của Bộ Y tế về việc ban hành hướng dẫn về chuyên môn kỹ thuật trong sàng lọc, chẩn đoán, điều trị trước sinh và sơ sinh;
Quyết định số 403/QĐ-BYT ngày 20 tháng 01 năm 2021của Bộ Y tế về việc ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Chương trình Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi đến năm 2030;
Quyết định số 2539/QĐ-BYT ngày 24 tháng 5 năm 2021 của Bộ Y tế về việc ban hành Kế hoạch hành động thực hiện chương trình mở rộng, tầm soát, chẩn đoán, điều trị một số bệnh, tật trước sinh và sơ sinh đến năm 2030;
Quyết định số 5175/QĐ-BYT ngày 09 tháng 11 năm 2021 của Bộ Y tế về việc phê duyệt tài liệu hướng dẫn triển khai phòng vắt, trữ sữa mẹ tại nơi làm việc.
I. PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG THỤ HƯỞNG
1. Phạm vi:
Đề án được triển khai trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2025 đến năm 2030.
2. Đối tượng thụ hưởng:
Toàn bộ người dân trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
1. Mục tiêu chung: đảm bảo mọi người dân trên địa bàn Thành phố
Hồ Chí Minh được tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe toàn diện, liên tục và chất
lượng, sống trong môi trường an toàn, phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần.
Qua đó, góp phần nâng cao sức khỏe của phụ nữ mang thai, bào thai, trẻ sơ sinh, trẻ em, người lao động và người cao tuổi, đồng thời làm tăng tổng tỷ suất sinh và cải thiện chất lượng cuộc sống cộng đồng.
2. Mục tiêu cụ thể
2.1. Giai đoạn chăm sóc sức khỏe tiền hôn nhân
- Mục tiêu 1: đảm bảo mỗi cặp nam nữ thanh niên trong độ tuổi kết hôn trước khi kết hôn được thực hiện tư vấn, khám sức khỏe, tiêm vắc xin phòng ngừa bệnh truyền nhiễm cho phụ nữ trước và trong khi mang thai;
- Mục tiêu 2: phấn đấu thực hiện tăng tổng tỷ suất sinh nhằm giải quyết tình trạng mức sinh thấp của Thành phố.
2.2. Giai đoạn chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh
- Mục tiêu 3: cải thiện tình trạng sức khỏe sinh sản, dinh dưỡng của phụ nữ có thai và trẻ em.
- Mục tiêu 4: đẩy mạnh hoạt động tầm soát, chẩn đoán, can thiệp bào thai, điều trị một số bệnh, tật trước sinh.
- Mục tiêu 5: đẩy mạnh hoạt động sàng lọc sơ sinh để phát hiện, can thiệp và điều trị sớm các rối loạn chuyển hóa bẩm sinh, góp phần nâng cao chất lượng dân số.
2.3. Giai đoạn chăm sóc phát triển trẻ toàn diện trong 5 năm đầu đời và chăm sóc trẻ từ 06 tuổi đến 18 tuổi
- Mục tiêu 6: bảo đảm cho trẻ em từ 02 tháng đến dưới 06 tuổi được phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần; được bình đẳng tiếp cận với các dịch vụ hỗ trợ chăm sóc phát triển toàn diện theo độ tuổi.
- Mục tiêu 7: tăng cường công tác quản lý, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe học sinh, trong đó tập trung hoạt động tư vấn tâm lý, phòng ngừa các bệnh tật học đường và sức khỏe sinh sản vị thành niên.
2.4. Giai đoạn bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe người lao động và người cao tuổi
- Mục tiêu 8: thực hiện quản lý, chăm sóc sức khỏe liên tục, lâu dài, đẩy mạnh chăm sóc sức khỏe người lao động, khuyến khích lối sống, dinh dưỡng lành mạnh nơi làm việc; phòng, chống bệnh tật, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp cho người lao động.
- Mục tiêu 9: chăm sóc, nâng cao sức khỏe người cao tuổi toàn diện (người từ 60 tuổi trở lên) bảo đảm thích ứng với già hóa dân số, góp phần thực hiện thành công kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030 tại Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Các chỉ tiêu cụ thể (theo Phụ lục 1)
1. Tư vấn và khám sức khỏe trước khi kết hôn
Tư vấn và khám sức khỏe trước khi kết hôn là một vấn đề mới trong quan niệm của người dân nhưng bước đầu đã nhận được sự đồng tình hưởng ứng thực hiện. Với việc xác định ý nghĩa, lợi ích của việc tư vấn và khám sức khỏe trước khi kết hôn sẽ góp phần chuẩn bị tâm, sinh lý để xây dựng một gia đình hạnh phúc cả về thể chất lẫn tinh thần, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, trong đó tập trung các nội dung sau:
- Xây dựng quy trình chuyên môn kỹ thuật, danh mục chung thống nhất cho tất cả các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Thành phố khi tham gia cung cấp dịch vụ khám sức khỏe trước khi kết hôn dành cho cả nam và nữ; ban hành quy chuẩn, tiêu chuẩn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khi cung cấp dịch vụ tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn, mẫu phiếu khám và thực hiện kiểm tra, giám sát đánh giá chất lượng dịch vụ định kỳ.
- Phát triển mạng lưới cung cấp dịch vụ tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn: tất cả các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn Thành phố bao gồm công lập và ngoài công lập tuyến Thành phố và quận, huyện đều có thể tham gia tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn khi đủ điều kiện cung cấp dịch vụ. Chú trọng phát triển cung cấp dịch vụ khám nam khoa tại bệnh viện tuyến Thành phố và quận, huyện. Đảm bảo tuân thủ quy trình tiêu chuẩn tư vấn và cung cấp các dịch vụ khám sức khỏe trước khi kết hôn theo hướng dẫn của Bộ Y tế.
- Tăng cường công tác truyền thông - giáo dục, tư vấn lồng ghép với cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe thân thiện với trẻ vị thành niên và thanh niên. Xây dựng và áp dụng các mô hình truyền thông mới, xã hội hóa công tác dân số trong triển khai thực hiện chương trình tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn, hỗ trợ bà mẹ trong quá trình mang thai và nuôi con.
- Nghiên cứu, ban hành hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền ban hành chính sách hỗ trợ chi phí gói tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn cho các cặp nam, nữ chuẩn bị kết hôn, hỗ trợ tiêm vắc xin phòng bệnh truyền nhiễm cho phụ nữ trước và trong khi mang thai.
- Triển khai các giải pháp hỗ trợ tư vấn, điều trị sau khám sức khỏe trước khi kết hôn.
Nghị quyết dự định trình là: Chính sách đặc thù hỗ trợ kinh phí khám sức khỏe cho các cặp nam nữ trước khi kết hôn và tiêm vắc xin phòng bệnh truyền nhiễm cho phụ nữ trước khi mang thai trên địa bàn Thành phố từ năm 2025.
Cơ quan chủ trì: Sở Y tế
Cơ quan phối hợp: Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, Sở Tài chính, Ủy ban nhân dân phường, xã và các tổ chức, đơn vị có liên quan.
2. Triển khai các giải pháp làm tăng tổng tỷ suất sinh
Thành phố Hồ Chí Minh đang ở trong nhóm 21 tỉnh thành có tổng tỷ suất sinh thấp nhất cả nước. Trên cơ sở đó, Thành phố Hồ Chí Minh cần đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước về dân số để có những giải pháp giải quyết tình trạng mức sinh thấp.
Nghiên cứu, ban hành hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền ban hành các chính sách hỗ trợ, khuyến khích các cặp vợ chồng sinh đủ hai con trên cơ sở phân tích, đánh giá tác động của các chính sách về lao động, việc làm, nhà ở; phúc lợi xã hội, giáo dục, y tế… có liên quan đến việc sinh ít con, cụ thể như sau:
- Hỗ trợ phụ nữ khi mang thai, sinh con: hỗ trợ chi phí cho phụ nữ mang thai khi tham gia chương trình sàng lọc trước sinh, sàng lọc sơ sinh và hỗ trợ toàn bộ kinh phí đồng chi trả (sau khi đã trừ chi phí được bảo hiểm y tế thanh toán) khi khám thai định kỳ và sinh con.
- Chú trọng quy hoạch, xây dựng các điểm trông, giữ trẻ, nhà mẫu giáo phù hợp với điều kiện của bà mẹ, nhất là các khu chế xuất, khu công nghiệp, khu đô thị. Thí điểm các dịch vụ thân thiện với người lao động như điều chỉnh thời gian trông trẻ, hỗ trợ chi phí học bán trú ở cấp mầm non và tiểu học, nhân rộng phòng vắt và trữ sữa mẹ tại nơi làm việc, sử dụng hiệu quả nguồn sữa từ ngân hàng sữa mẹ…
- Ban hành các văn bản (trên cơ sở khảo sát, đánh giá hiện trạng và xu hướng mức sinh của từng quận, huyện) để lãnh đạo, chỉ đạo tập trung giải quyết tình trạng mức sinh thấp. Các chỉ tiêu phấn đấu về tăng mức sinh phải được lồng ghép vào việc hoạch định cụ thể trong kế hoạch phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của Thành phố, của từng ngành, từng địa phương.
Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động thay đổi hành vi, tổ chức các sự kiện truyền thông, tuyên truyền thực hiện các mục tiêu về tăng mức sinh của Thành phố. Tăng cường phối hợp liên ngành, phát huy mạnh mẽ vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các Đoàn thể chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp và của cả cộng đồng trong việc chung tay giải quyết tình trạng mức sinh thấp.
Rà soát các quy định về việc đề cao tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong thực hiện sinh đủ hai con, nuôi dạy con tốt, xây dựng gia đình tiến bộ, hạnh phúc.
Đảm bảo cung cấp đầy đủ các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe bà mẹ trẻ em tới mọi người dân. Tăng cường quản lý nhà nước đối với việc cung cấp các dịch vụ phá thai, cơ bản loại trừ phá thai không an toàn. Có cơ chế chính sách hỗ trợ điều trị vô sinh cho người thuộc hộ nghèo, cận nghèo, hộ khó khăn.
Thí điểm cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình, hỗ trợ bà mẹ trong quá trình mang thai và nuôi con bằng hình thức trực tuyến qua mạng xã hội, kết nối công nghệ thông tin để nâng cao cơ hội tiếp cận của người dân đối với các dịch vụ này.
Xây dựng và triển khai các loại hình phòng, tránh vô sinh từ tuổi vị thành niên thông qua các chương trình giáo dục, can thiệp tại cộng đồng. Có cơ chế chính sách hỗ trợ điều trị vô sinh cho người thuộc hộ nghèo, cận nghèo, hộ khó khăn.
Cơ quan chủ trì: Sở Y tế.
Cơ quan phối hợp: Các Sở, ngành, tổ chức, đơn vị có liên quan và Ủy ban nhân dân phường, xã.
3. Tăng cường chăm sóc và quản lý thai kỳ
Chăm sóc sức khỏe phụ nữ mang thai luôn được đặt ở vị trí ưu tiên trong các chiến lược chăm sóc sức khỏe cho toàn dân. Các can thiệp về chăm sóc sức khỏe phụ nữ đã được bao phủ ở các tỉnh thành trong cả nước. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ phụ nữ đẻ nhận được ít nhất 04 lần khám thai trong suốt thai kỳ giai đoạn năm 2019-2024 dao động từ 87,9% - 90,6%, cao hơn so với chỉ tiêu toàn quốc đến năm 2025 là 85%. Trong giai đoạn 2025-2030, Thành phố tập trung các hoạt động nhằm nâng cao chất lượng dân số, giảm tử vong mẹ và tử vong sơ sinh:
3.1. Tăng cường công tác quản lý sức khỏe thai kỳ, theo dõi sát thai kỳ nguy cơ
Tăng cường công tác thông tin, truyền thông và vận động về lợi ích của việc khám thai định kỳ. Củng cố và phát triển mạng lưới chăm sóc sức khỏe sinh sản trên địa bàn Thành phố nhằm đảm bảo tất cả phụ nữ mang thai được khám thai ít nhất 04 lần/thai kỳ theo quy định và được tầm soát các bệnh truyền nhiễm lây truyền từ mẹ sang con trong thai kỳ, phát hiện kịp thời thai kỳ nguy cơ cao, dị tật bẩm sinh. Kết nối thông tin giữa các bệnh viện và tuyến y tế cơ sở để theo dõi sát thai phụ nhằm giảm tỷ lệ tử vong mẹ và trẻ sơ sinh.
Đảm bảo phá thai an toàn, ưu tiên chọn phương pháp phá thai nội khoa đối với những trường hợp có thai ngoài ý muốn.
Cơ quan chủ trì: Sở Y tế.
Cơ quan phối hợp: Sở Văn hóa và Thể thao, Ủy ban nhân dân phường, xã.
3.2. Chăm sóc dinh dưỡng cho phụ nữ mang thai
Sàng lọc, đánh giá tình trạng dinh dưỡng và tư vấn can thiệp độ dinh dưỡng phù hợp với tình trạng dinh dưỡng và bệnh lý của phụ nữ mang thai.
Tăng cường công tác thông tin, truyền thông và chăm sóc dinh dưỡng cho phụ nữ mang thai và đảm bảo dinh dưỡng nuôi con bằng sữa mẹ.
Củng cố và phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác dinh dưỡng tại cộng đồng và bệnh viện đảm bảo tính bền vững, kiến thức chuyên ngành.
Cơ quan chủ trì: Sở Y tế
Cơ quan phối hợp: Sở Văn hóa và Thể thao, Ủy ban nhân dân phường, xã.
3.3. Xây dựng cơ sở dữ liệu sức khỏe của phụ nữ mang thai
Số hóa hoạt động quản lý thai kỳ, thu thập dữ liệu quản lý thai kỳ tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Số liệu sẽ được chuẩn hóa thông qua việc xây dựng sổ theo dõi sức khỏe bà mẹ và trẻ em điện tử để số hóa, quản lý các dữ liệu về chăm sóc sức khỏe phụ nữ mang thai, trẻ em. Triển khai phần mềm, theo dõi, đánh giá phần mềm tại tất cả các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cung cấp dịch vụ khám thai và sinh đẻ.
Cơ quan chủ trì: Sở Y tế.
Cơ quan phối hợp: Sở Văn hóa và Thể thao, Ủy ban nhân dân phường, xã.
4. Tầm soát, chẩn đoán, can thiệp bào thai, điều trị một số bệnh, tật trước sinh
Trong giai đoạn hiện nay, cùng bắt nhịp với những tiến bộ trong chẩn đoán trước sinh và can thiệp bào thai tại các đơn vị tiền sản trong nước đã giúp cải thiện rõ rệt kết cục thai kỳ, tránh được những hậu quả nặng nề về thể chất và trí tuệ, tàn tật trong cộng đồng, việc thực hiện và phát triển về xét nghiệm sàng lọc, đội ngũ tư vấn tiền sản và thực hiện các thủ thuật chẩn đoán, phẫu thuật can thiệp bào thai là vô cùng cần thiết. Từ những cơ sở dữ liệu trên cho thấy, y học chẩn đoán và can thiệp bào thai đã vươn lên một tầm cao mới, nhưng vẫn rất cần sự hỗ trợ từ đa chuyên khoa, nhất là can thiệp chuyên khoa Nhi, cần duy trì và phát triển hoạt động phối hợp chuyên khoa Sản, Nhi trong hội chẩn liên viện.
4.1. Phát triển mạng lưới chẩn đoán trước sinh tại Thành phố Hồ Chí Minh
Đảm bảo tất cả phụ nữ mang thai được khám thai, tầm soát các bệnh di truyền di tật ngay trong giai đoạn bào thai tránh được những hậu quả nặng nề về thể chất và trí tuệ, giảm thiểu số người tàn tật, thiểu năng trí tuệ trong cộng đồng. Tất cả các bệnh viện, trung tâm y tế có khoa sản/phòng khám phụ sản thực hiện tư vấn, xét nghiệm sàng lọc trước sinh.
Cơ quan chủ trì: Sở Y tế
Cơ quan phối hợp: Ủy ban nhân dân phường, xã.
4.2. Hình thành “Trung tâm can thiệp bào thai” tại Thành phố Hồ Chí Minh
Đảm bảo can thiệp các dị tật trong giai đoạn bào thai có thể can thiệp để giảm tỷ lệ tử vong bào thai và nâng cao chất lượng cuộc sống của trẻ sơ sinh sau này. Biên soạn quy trình kỹ thuật can thiệp bào thai phối hợp liên chuyên khoa. Xây dựng cơ sở vật chất, trang bị thiết bị hiện đại, đào tạo ê kíp thực hiện kỹ thuật can thiệp bào thai tại Thành phố Hồ Chí Minh từ các bệnh viện chuyên khoa Phụ Sản và bệnh viện chuyên khoa Nhi.
Cơ quan chủ trì: Sở Y tế
Cơ quan phối hợp: Ủy ban nhân dân phường, xã.
5. Đẩy mạnh hoạt động sàng lọc sơ sinh, can thiệp, điều trị và phục hồi chức năng các bệnh, tật
Đẩy mạnh hoạt động sàng lọc sơ sinh, can thiệp, điều trị và phục hồi chức năng các bệnh lý bẩm sinh và di truyền là một giải pháp y tế thiết yếu nhằm nâng cao chất lượng dân số, giảm thiểu tỷ lệ bệnh tật, tử vong ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Sàng lọc sơ sinh đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện sớm các bệnh lý bẩm sinh và bất thường di truyền ngay từ những ngày đầu đời của trẻ. Đây cũng là cơ sở để triển khai các chương trình can thiệp cộng đồng một cách hiệu quả, từng bước giảm tỷ lệ trẻ mắc các bệnh lý bẩm sinh và bất thường di truyền trong dân số, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống đồng thời giảm gánh nặng cho gia đình và xã hội.
5.1. Xây dựng mạng lưới sàng lọc sơ sinh tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có chuyên khoa Phụ Sản ở Thành phố Hồ Chí Minh
Đảm bảo tất cả các trẻ sơ sinh được xét nghiệm tầm soát các rối loạn bẩm sinh có thể phát hiện được ngay sau sinh (thiếu men G6PD, suy giáp bẩm sinh, tăng sinh tuyến thượng thận bẩm sinh, khiếm thính và tim bẩm sinh). Việc sàng lọc sẽ được chuẩn hóa tại tất cả các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; chuẩn hóa quy trình xét nghiệm sàng lọc sau sinh dựa trên hướng dẫn của Cục Dân số. Xây dựng mạng lưới sàng lọc sơ sinh tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thực hiện đỡ sinh. Nâng cao năng lực chuyên môn về công tác sàng lọc sơ sinh cho mạng lưới trên địa bàn.
Cơ quan chủ trì: Sở Y tế.
Cơ quan phối hợp: Ủy ban nhân dân phường, xã.
5.2. Phối hợp Sản-Nhi trong chẩn đoán, điều trị và phục hồi chức năng bệnh lý sơ sinh
Củng cố và phát triển đơn nguyên, khoa Sơ sinh, Hồi sức sơ sinh tại các bệnh viện có chuyên khoa Phụ Sản, Nhi. Đảm bảo tất cả các trẻ sơ sinh có kết quả xét nghiệm tầm soát các rối loạn bẩm sinh bất thường được chẩn đoán và điều trị ngay. Thành lập Tổ chuyên gia xây dựng quy trình chẩn đoán và xử trí các bất thường sàng lọc sơ sinh. Xây dựng hoàn thiện và triển khai quy trình phối hợp liên chuyên khoa chẩn đoán và xử trí các bất thường sàng lọc sơ sinh. Tăng cường phối hợp Sản-Nhi trong phát hiện, quản lý, điều trị và chăm sóc toàn diện trẻ sinh non hoặc trẻ mắc các bệnh lý liên quan đến sinh non. Đồng thời phát triển mạng lưới cung cấp dịch vụ phát hiện, điều trị, trị liệu và phục hồi chức năng cho trẻ sơ sinh theo quy định của pháp luật, triển khai phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng.
Cơ quan chủ trì: Sở Y tế
Cơ quan phối hợp: Ủy ban nhân dân phường, xã.
6. Chăm sóc sức khỏe toàn diện trẻ em 05 năm đầu đời
Phát triển trẻ toàn diện là kết quả tổng hòa của nhiều can thiệp về xã hội, y tế và giáo dục, chăm sóc và bảo vệ trẻ em, hướng tới sự phát triển sớm và toàn diện của trẻ em. Can thiệp y tế đối với sự phát triển toàn diện của trẻ em trong dự án này bao gồm: (1) Khám sức khỏe định kỳ theo lứa tuổi để phát hiện sớm và điều trị kịp thời bệnh lý; (2) Khám, tư vấn và thực hiện tiêm chủng đầy đủ; (3) Đánh giá và tư vấn dinh dưỡng; (4) Tầm soát, phát hiện sớm và điều trị kịp thời trẻ bị rối loạn phổ tự kỷ, chậm phát triển tâm thần vận động; (5) Hướng dẫn cha mẹ cách tương tác với trẻ trong giai đoạn phát triển sớm và hỗ trợ trị liệu các trẻ gặp khó khăn về phát triển, nhằm giúp trẻ được phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần và vận động để phát huy được tối đa tiềm năng trong tương lai. Các hoạt động được triển khai như sau:
6.1. Khám sức khỏe định kỳ theo lứa tuổi
Nhằm phát hiện sớm và điều trị kịp thời bệnh lý hoặc những dấu hiệu bất thường, trẻ em được khám sức khỏe toàn diện ít nhất mỗi năm một lần. Việc khám sức khỏe định kỳ sẽ được tổ chức tại các trạm y tế phường, xã, trung tâm y tế quận, huyện, bệnh viện đa khoa, bệnh viện chuyên khoa Nhi hoặc tại cơ sở giáo dục (nếu trẻ đi học). Hoạt động này có thể lồng ghép vào công tác tiêm chủng mở rộng được tổ chức định kỳ tại tuyến y tế cơ sở hoặc khám sức khỏe tại các cơ sở giáo dục mầm non.
Cơ quan chủ trì: Sở Y tế
Cơ quan phối hợp: Sở Giáo dục và Đào tạo, Ủy ban nhân dân phường, xã.
6.2. Khám, tư vấn và thực hiện tiêm chủng
Khám, tư vấn và thực hiện tiêm chủng đã được triển khai thường quy tại các cơ sở y tế công lập và tư nhân. Để duy trì và tăng tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ các vắc xin trong chương trình tiêm chủng mở rộng cần đảm bảo cung ứng đầy đủ vắc xin. Bên cạnh việc tiêm chủng cho trẻ khỏe mạnh cần tăng cường khám sàng lọc và thực hiện tiêm chủng vào thời điểm thích hợp cho trẻ đang điều trị tại bệnh viện, trẻ nguy cơ, trẻ có bệnh nền hoặc bệnh bẩm sinh.
Cơ quan chủ trì: Sở Y tế
Cơ quan phối hợp:Ủy ban nhân dân phường, xã.
6.3. Tổ chức triển khai hiệu quả các can thiệp dinh dưỡng
Đánh giá sự tăng trưởng về thể chất và can thiệp dinh dưỡng: sàng lọc, theo dõi và đánh giá tình trạng dinh dưỡng cho trẻ em tại cộng đồng, trường học và bệnh viện. Tổ chức tư vấn chế độ dinh dưỡng phù hợp cho từng đối tượng.
Cải thiện chất lượng bữa ăn, đảm bảo thực phẩm đa dạng, lành mạnh: Phổ biến các nhu cầu dinh dưỡng, khuyến nghị, thực đơn và khẩu phần, chế độ dinh dưỡng và hoạt động thể lực phù hợp cho mọi lứa tuổi và thể trạng.
Tổ chức thực hiện các hoạt động khám, tư vấn và điều trị bằng chế độ dinh dưỡng phù hợp với tình trạng dinh dưỡng và bệnh lý cho trẻ đến khám và điều trị tại bệnh viện.
Quản lý và điều trị suy dinh dưỡng cấp tính nặng; phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng; cung ứng các dịch vụ tư vấn, phục hồi dinh dưỡng, phòng chống thừa cân béo phì.
Cơ quan chủ trì: Sở Y tế
Cơ quan phối hợp: Sở Giáo dục và Đào tạo, Ủy ban nhân dân phường, xã.
6.4. Tầm soát, phát hiện sớm và điều trị kịp thời trẻ bị rối loạn phổ tự kỷ, chậm phát triển tâm thần vận động
Trẻ em cần được đánh giá phát triển tâm thần vận động nhằm phát hiện sớm và hỗ trợ trị liệu kịp thời cho các trẻ gặp khó khăn trong quá trình phát triển, đặc biệt như chậm phát triển tâm thần vận động và rối loạn phổ tự kỷ, giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần. Công việc này sẽ được thực hiện tại tất cả các tuyến y tế, các phòng khám tiêm chủng và trẻ em lành mạnh, kể cả hệ thống phòng khám tư nhân, có thể lồng ghép vào khám sức khỏe định kỳ và tiêm chủng. Những trường hợp có chỉ định can thiệp cần được chuyển đến các cơ sở phục hồi chức năng phù hợp. Đây là công việc mới đối với hầu hết nhân viên y tế tuyến cơ sở, vì vậy họ cần được huấn luyện, đào tạo trước khi triển khai.
Phát triển mạng lưới cung cấp dịch vụ phát hiện sớm, điều trị, trị liệu và phục hồi chức năng đối với trẻ em tự kỷ và người bị rối nhiễu tâm trí theo quy định của pháp luật.
Cơ quan chủ trì: Sở Y tế
Cơ quan phối hợp: Sở Giáo dục và Đào tạo, Ủy ban nhân dân phường, xã.
6.5. Hướng dẫn cha mẹ cách tương tác với trẻ
Sự tương tác giữa trẻ và người chăm sóc có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần của trẻ, đặc biệt là khả năng ngôn ngữ và học tập. Thực tế cho thấy nhiều trẻ bị chậm phát triển ngôn ngữ do thiếu tương tác với cha mẹ hoặc các người thân khác trong gia đình và những người xung quanh. Hướng dẫn cha mẹ cách tương tác với trẻ được thực hiện bởi nhân viên y tế tuyến y tế cơ sở, các phòng khám ngoại trú của trung tâm y tế, bệnh viện quận, huyện và các phòng khám tiêm chủng trẻ em lành mạnh của các bệnh viện chuyên khoa Nhi. Ngoài ra, hoạt động này còn được triển khai bởi nhân viên sức khỏe cộng đồng và cô giáo mầm non, nhà trẻ. Đây là hoạt động mới nên tất cả các đối tượng trên cần được huấn luyện, đào tạo.
Cơ quan chủ trì: Sở Y tế
Cơ quan phối hợp: Sở Giáo dục và Đào tạo, Ủy ban nhân dân phường, xã.
7. Tăng cường công tác quản lý, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe học sinh
7.1. Chuẩn hóa mạng lưới nhân viên y tế trường học
Phấn đấu đảm bảo tất cả các cơ sở giáo dục có nhân viên y tế trường học chuyên trách, trình độ chuyên môn phù hợp. Nhân viên y tế trường học phải được thường xuyên cập nhật kiến thức chuyên môn y tế thông qua các hình thức tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn do ngành Y tế, ngành Giáo dục tổ chức để triển khai được các nhiệm vụ quy định.
Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn cho cán bộ, nhân viên làm công tác y tế trường học theo quy định.
Cơ quan chủ trì: Sở Giáo dục và Đào tạo.
Cơ quan phối hợp: Sở Y tế, các trường đại học thuộc khối ngành sức khỏe.
7.2. Tăng cường công tác truyền thông giáo dục sức khỏe
Xây dựng đội ngũ truyền thông có chuyên môn hỗ trợ các cơ sở giáo dục trong các hoạt động truyền thông trực tiếp; Phối hợp tập huấn về chuyên môn khi có yêu cầu.
Tổ chức truyền thông, giáo dục sức khỏe cho học sinh và cha mẹ hoặc người giám hộ với các chuyên đề phù hợp theo lứa tuổi trên cơ sở định hướng của ngành y tế qua đó xây dựng hành vi có lợi cho sức khỏe của thế hệ tương lai.
Cơ quan chủ trì: Sở Giáo dục và Đào tạo
Cơ quan phối hợp: Sở Y tế, Sở Văn hóa và Thể thao, các cơ quan báo đài, Ủy ban nhân dân phường, xã.
7.3.Tăng cường công tác quản lý, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe học sinh
Xây dựng, hướng dẫn nội dung tập huấn về chuyên môn như khám, tầm soát sức khỏe học sinh, đánh giá tình trạng dinh dưỡng, xây dựng thực đơn đáp ứng nhu cầu khuyến nghị của Bộ Y tế; tổ chức tập huấn về hướng dẫn hoạt động khám, tầm soát sức khỏe học sinh cho nhân viên y tế của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và nhân viên y tế trường học của các cơ sở giáo dục.
Thực hiện chuyển đổi số dữ liệu sức khỏe của học sinh, theo dõi, quản lý theo dõi kết quả sức khỏe học sinh trên phần mềm để kịp thời phát hiện và xử lý các tình huống sức khỏe khẩn cấp của học sinh; đồng thời xây dựng kế hoạch can thiệp phù hợp.
Triển khai hiệu quả chương trình nha học đường, đặc biệt là chăm sóc sức khỏe răng miệng cho học sinh tiểu học nhằm hạn chế thấp nhất các bệnh lý về răng miệng, đặc biệt là tình trạng sâu răng, mất răng ở trẻ em.
Triển khai tổ chức các đợt tiêm chủng tại cơ sở giáo dục nhằm tăng tỷ lệ bao phủ các vắc xin cho trẻ để chủ động phòng ngừa các bệnh truyền nhiễm. Triển khai tiêm vắc xin HPV cho trẻ em gái từ 11 tuổi đến 18 tuổi bằng nguồn vắc xin của Bộ Y tế (nếu có) hoặc nguồn ngân sách của Thành phố.
Nghị quyết dự kiến sẽ trình là:
- Chính sách đặc thù hỗ trợ kinh phí khám sức khỏe cho trẻ mầm non, học sinh tiểu học (bao gồm điều trị dự phòng răng miệng), trung học cơ sở, trung học phổ thông công lập, ngoài công lập và học giáo dục thường xuyên (cấp trung học phổ thông) trên địa bàn Thành phố từ năm học 2025-2026.
- Xây dựng giá gói khám sức khỏe cho trẻ mầm non, học sinh tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông công lập, ngoài công lập và học giáo dục thường xuyên (cấp trung học phổ thông) trên địa bàn Thành phố
- Xây dựng giá gói dịch vụ chăm sóc sức khỏe răng miệng cho học sinh tiểu học trên địa bàn Thành phố.
- Chính sách đặc thù hỗ trợ kinh phí tiêm vắc xin phòng các bệnh do HPV cho trẻ từ 11 tuổi đến 18 tuổi trên địa bàn Thành phố (Bộ Y tế đang đề xuất triển khai thực hiện từ năm 2026. Do đó, nếu đến năm 2026 Bộ Y tế chưa có Kế hoạch triển khai thì Sở Y tế sẽ trình Nghị quyết).[1]
Cơ quan chủ trì: Sở Y tế
Cơ quan phối hợp: Sở Giáo dục và Đào tạo, Ủy ban nhân dân phường, xã.
7.4. Triển khai công tác chăm sóc sức khỏe tâm thần cho học sinh nhằm giúp trẻ phát triển toàn diện
Tổ chức các phòng tư vấn tâm lý tại các cơ sở giáo dục phù hợp với chiến lược y tế trong công tác chăm sóc sức khỏe tâm thần cho người dân Thành phố Hồ Chí Minh. Tổ chức sàng lọc về sức khỏe tâm thần cho tất cả học sinh trong các đợt khám sức khỏe đầu năm học. Tập huấn cho nhân viên phụ trách công tác y tế trường học về kiến thức, kỹ năng, hướng dẫn các phương pháp nhận biết và kỹ thuật can thiệp cơ bản đối với trẻ em tự kỷ, thực hiện chuyển gửi đến các bệnh viện chuyên khoa để được chẩn đoán xác định và điều trị.
Phát triển hệ thống dịch vụ và mô hình giáo dục trẻ em tự kỷ, phù hợp với nhu cầu đa dạng của trẻ em tự kỷ và người chưa thành niên rối nhiễu tâm trí: Phát hiện sớm, can thiệp sớm, giáo dục hòa nhập, giáo dục chuyên biệt, giáo dục trẻ em tự kỷ và người chưa thành niên rối nhiễu tâm trí tại cơ sở trợ giúp xã hội, gia đình và cộng đồng, giáo dục từ xa.
Cơ quan chủ trì: Sở Giáo dục và Đào tạo.
Cơ quan phối hợp: Sở Y tế, Ủy ban nhân dân phường, xã.
7.5. Đảm bảo điều kiện cải thiện vệ sinh phòng học, cung cấp nước sạch, vệ sinh môi trường, dinh dưỡng học đường, phòng ngừa bệnh
Cơ sở giáo dục có đủ nhà vệ sinh cho học sinh theo quy định và đảm bảo điều kiện hợp vệ sinh, cung cấp đủ nước uống và nước sạch cho sinh hoạt, hoạt động trong trường học đảm bảo chất lượng theo quy định. Phòng học đạt yêu cầu về chiếu sáng, đủ cỡ bàn ghế theo nhóm chiều cao học sinh.
Tổ chức bữa ăn học đường đảm bảo các điều kiện về vệ sinh an toàn thực phẩm; dinh dưỡng hợp lý theo lứa tuổi và đa dạng thực phẩm (đối với các trường học có tổ chức bữa ăn học đường);
Triển khai các biện pháp phòng chống dịch bệnh trong trường học như vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường học tập, cung cấp thông tin và tài liệu hướng dẫn về cách phòng ngừa và nhận biết các triệu chứng dịch bệnh, cách xử lý khi bị bệnh.
Cơ quan chủ trì: Sở Giáo dục và Đào tạo
Cơ quan phối hợp: Sở Y tế, Sở An toàn thực phẩm, Ủy ban nhân dân phường, xã.
7.6. Đẩy mạnh truyền thông, tư vấn và tăng cường cung cấp dịch vụ chuyên môn kỹ thuật chăm sóc sức khỏe sinh sản
Tăng cường truyền thông, tư vấn và giáo dục sức khỏe: đặc biệt chú trọng đến sức khỏe tình dục trẻ vị thành niên như phổ biến các biện pháp tránh thai và phòng bệnh lây truyền qua đường tình dục; cung cấp thông tin và khuyến khích tiêm ngừa phòng các bệnh ung thư nguy hiểm do vi rút HPV cho cả trẻ em, thanh thiếu niên nam và nữ; mở rộng và tăng cường áp dụng các cách tiếp cận mới trong cung cấp thông tin và dịch vụ chăm sóc sức khỏe, sức khỏe sinh sản cho vị thành niên; xây dựng góc tư vấn về sức khỏe, sức khỏe sinh sản với nội dung phù hợp với từng bậc học, trong nhà trường; lồng ghép các nội dung chăm sóc sức khỏe/sức khỏe sinh sản trong các hoạt động sinh hoạt tập thể, các cuộc thi trong nhà trường.
Triển khai các hoạt động truyền thông, tư vấn và tăng cường cung cấp dịch vụ chuyên môn kỹ thuật chăm sóc sức khỏe sinh sản bằng nhiều hình thức trực tiếp như tập huấn, nói chuyện chuyên đề… hoặc gián tiếp như tin bài đăng webiste, trang fanpage, kênh yotube…
Cơ quan chủ trì: Sở Giáo dục và Đào tạo
Cơ quan phối hợp: Sở Y tế, Ủy ban nhân dân phường, xã.
8. Chăm sóc và nâng cao sức khỏe người lao động, phòng chống bệnh nghề nghiệp
8.1. Triển khai có hiệu quả công tác chăm sóc sức khỏe và bệnh nghề nghiệp, sơ cấp cứu cho người lao động tại nơi làm việc
Triển khai các biện pháp phòng, chống một số bệnh nghề nghiệp phổ biến, thường gặp tại một số ngành nghề có nguy cơ cao về bệnh nghề nghiệp như: bệnh nhiễm khuẩn nghề nghiệp trong ngành y tế, bệnh điếc nghề nghiệp tại các ngành cơ khí, nhà máy sản xuất... có tiếng ồn vượt mức cho phép, bụi phổi nghề nghiệp. Giảm thiểu tiếp xúc với yếu tố có hại tại các cơ sở lao động có nguy cơ.
Tổ chức khám sức khỏe định kỳ, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp cho người lao động đúng quy định tại các cơ sở lao động có nguy cơ cao gây bệnh nghề nghiệp. Lập hồ sơ quản lý sức khỏe định kỳ, hồ sơ khám bệnh nghề nghiệp tại đơn vị đúng theo quy định. Thực hiện hiệu quả phòng chống các bệnh truyền nhiễm và bệnh không lây nhiễm phổ biến (ung thư, tim mạch, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn, hen phế quản...) tại nơi làm việc, đặc biệt là các doanh nghiệp trong Khu chế xuất - Khu công nghiệp, Khu công nghệ cao.
Cơ quan chủ trì: Sở Y tế
Cơ quan phối hợp: Sở Tài chính, Sở Văn hóa và Thể thao; Bảo hiểm xã hội Thành phố, Ban quản lý KCX-KCN, Ban quản lý Khu công nghệ cao, Ủy ban nhân dân phường, xã.
8.2. Đẩy mạnh công tác quan trắc môi trường lao động tại nơi làm việc
Xây dựng dữ liệu quan trắc môi trường lao động, bệnh nghề nghiệp. Đầu tư, trang bị thiết bị phục vụ nâng cao năng lực và hiệu quả công tác kiểm tra quan trắc môi trường lao động, nâng cao năng lực hệ thống cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát an toàn, vệ sinh lao động. Đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất trang thiết bị quan trắc môi trường lao động theo quy chuẩn quốc gia và các quy định của nhà nước phù hợp với quy mô và nhu cầu phát triển của các đơn vị, doanh nghiệp trong giai đoạn 2025-2030.
Thực hiện giám sát môi trường lao động của các ngành nghề nguy cơ cao, kịp thời phát hiện các nguy cơ, tác hại nghề nghiệp đề xuất biện pháp cải thiện phù hợp. Tiếp tục xây dựng dữ liệu chỉ số quan trắc môi trường lao động, bệnh nghề nghiệp.
Hướng dẫn chuyên môn kỹ thuật, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quan trắc môi trường lao động, đảm bảo chất lượng trong quá trình quan trắc môi trường lao động tại nơi làm việc.
Cơ quan chủ trì: Sở Y tế
Cơ quan phối hợp: Sở Tài chính, Sở Văn hóa và Thể thao; Bảo hiểm xã hội Thành phố, Ban quản lý KCX-KCN, Ban quản lý Khu công nghệ cao, Ủy ban nhân dân phường, xã.
8.3. Truyền thông, giáo dục, huấn luyện, tư vấn về công tác an toàn, vệ sinh lao động
Xây dựng tài liệu truyền thông về các chủ đề chăm sóc sức khỏe người lao động và tổ chức thực hiện truyền thông đến doanh nghiệp, người lao động bằng nhiều hình thức (Ngày hội tại khu chế xuất, khu công nghiệp; các lớp truyền thông trực tiếp; tin, bài, tranh ảnh, poster, clip… trên website, youtube).
Tăng cường hoạt động tập huấn, truyền thông nâng cao kiến thức về phòng chống bệnh nghề nghiệp, chăm sóc sức khỏe người lao động cho cán bộ quản lý các cấp, cán bộ an toàn vệ sinh lao động, cán bộ y tế cơ quan, người sử dụng lao động, người lao động.
Cơ quan chủ trì: Sở Y tế
Cơ quan phối hợp: Sở Tài chính, Sở Văn hóa và Thể thao; Bảo hiểm xã hội Thành phố, Ban quản lý KCX-KCN, Ban quản lý Khu công nghệ cao, Ủy ban nhân dân phường, xã.
9. Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của người dân, cơ quan, tổ chức và gia đình về trách nhiệm kính trọng, giúp đỡ, chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi; nghĩa vụ, trách nhiệm phụng dưỡng người cao tuổi của gia đình có người cao tuổi; trách nhiệm thực hiện tốt và tích cực tham gia giám sát việc thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước đối với người cao tuổi; ý thức và trách nhiệm của mỗi cá nhân trong việc chủ động tự lo cho tuổi già từ khi còn trẻ.
Triển khai hiệu quả hoạt động khám sức khỏe, phát hiện, can thiệp sớm bệnh không lây nhiễm ở người cao tuổi tại các địa phương. Củng cố, nâng cao năng lực của hệ thống y tế cơ sở trong việc thực hiện dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, phòng chống dịch bệnh và chăm sóc y tế cho người cao tuổi theo định hướng ưu tiên, thuận tiện, sẵn có và dễ tiếp cận.
Huy động nguồn lực xã hội hóa để phát triển cơ sở trợ giúp xã hội chăm sóc người cao tuổi ngoài công lập đáp ứng điều kiện tiêu chuẩn về hoạt động cơ sở trợ giúp xã hội và nhu cầu của người cao tuổi trong tình hình mới. Định hướng hành vi sinh hoạt, lối sống và chăm sóc sức khỏe tại gia đình và cộng đồng nhằm nâng cao chất lượng sống và gia tăng tuổi thọ dân số.
Xây dựng, phát triển mạng lưới chăm sóc sức khỏe người cao tuổi dựa vào cộng đồng. Hình thành mạng lưới tình nguyện viên, cộng tác viên tham gia hoạt động theo dõi, hỗ trợ chăm sóc sức khỏe, quản lý các bệnh mạn tính, bệnh không lây nhiễm của người cao tuổi tại gia đình và cộng đồng.
Cơ quan chủ trì: Sở Y tế
Cơ quan phối hợp: Sở Tài chính, Sở Văn hóa và Thể thao, Bảo hiểm xã hội Thành phố, Hội Người cao tuổi Thành phố, Ủy ban nhân dân phường, xã.
IV. KINH PHÍ THỰC HIỆN: Nguồn ngân sách nhà nước theo phân cấp ngân sách hiện hành, kinh phí của chương trình, dự án liên quan, nguồn xã hội hóa và các nguồn kinh phí hợp pháp khác theo quy định.
Chủ trì, phối hợp với các sở, ngành, các cơ quan, đơn vị có liên quan tham mưu cấp có thẩm quyền ban hành các chế độ, chính sách để triển khai thực hiện Đề án theo quy định.
Chủ trì, phối hợp với các sở, ngành, tổ chức, đơn vị có liên quan và Ủy ban nhân dân các phường, xã để chỉ đạo, tổ chức triển khai, điều phối thực hiện các nhóm giải pháp chính đã nêu trong Đề án trên phạm vi toàn Thành phố, đảm bảo gắn kết, lồng ghép chặt chẽ với các đề án, kế hoạch khác có liên quan.
Chủ trì, phối hợp với các sở, ngành liên quan nghiên cứu, xây dựng và trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các cơ chế, chính sách nhằm huy động nguồn lực xã hội, kêu gọi sự tham gia đầu tư của các thành phần kinh tế nhằm triển khai, thực hiện Đề án.
Xây dựng Kế hoạch triển khai thực hiện Đề án theo lộ trình cụ thể, trình Ủy ban nhân dân Thành phố. Rà soát, đánh giá hiệu quả để tiếp tục triển khai hoặc đề xuất thay thế mục tiêu, các nhóm giải pháp của Thành phố nhằm đáp ứng yêu cầu mới trong từng giai đoạn.
Hàng năm, hướng dẫn triển khai Đề án đối với các đơn vị chức năng có liên quan, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra - giám sát, tổng hợp tình hình thực hiện và định kỳ báo cáo Ủy ban nhân dân Thành phố. Chỉ đạo các đơn vị trực thuộc, chủ nhiệm các chương trình sức khỏe xây dựng kế hoạch thực hiện theo từng lĩnh vực phụ trách theo nội dung Đề án.
Xây dựng dự toán hằng năm về các lĩnh vực liên quan đến Đề án để kịp thời tham mưu Ủy ban nhân dân Thành phố hỗ trợ kinh phí từ nguồn ngân sách và nguồn xã hội hóa.
Chủ trì, phối hợp ngành y tế và các đơn vị có liên quan triển khai công tác y tế trường học, thực hiện hoạt động quản lý, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe học sinh; vệ sinh trường học; bảo đảm dinh dưỡng hợp lý, phòng, chống bệnh, tật học đường; an toàn thực phẩm; hoạt động truyền thông, giáo dục sức khỏe; chỉ đạo các cơ sở giáo dục và đào tạo phối hợp với các cơ sở y tế có liên quan thực hiện công tác chăm sóc, giáo dục, phục hồi khả năng học tập và học nghề cho học sinh, sinh viên, học viên bị tự kỷ, rối nhiễu tâm trí và mắc bệnh tâm thần.
Phối hợp Sở Y tế thực hiện chuyển đổi số dữ liệu sức khỏe của học sinh, theo dõi, quản lý theo dõi kết quả sức khỏe học sinh trên phần mềm do Sở Y tế xây dựng để kịp thời phát hiện và xử lý các tình huống sức khỏe khẩn cấp của học sinh; đồng thời xây dựng kế hoạch can thiệp phù hợp.
3. Sở Tài chính: phối hợp Sở Y tế, Ủy ban nhân dân phường, xã, các cơ quan, đơn vị liên quan tham mưu Ủy ban nhân dân Thành phố đảm bảo nguồn kinh phí thực hiện theo quy định.
4. Sở Nội vụ: trên cơ sở đề nghị của Sở Y tế, phối hợp đề xuất các chính sách, thực hiện công tác thi đua - khen thưởng nhằm động viên kịp thời các tập thể, cá nhân, cộng đồng thực hiện tốt công tác bảo vệ sức khỏe người dân; đề xuất các chính sách về tổ chức bộ máy và chế độ thù lao đối với cán bộ làm công tác dân số ở cơ sở; vận động các chức sắc tôn giáo, những người có uy tín trong cộng đồng tham gia hỗ trợ chuyển tải các thông tin về dân số nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền cho người dân.
Chủ trì, phối hợp với Sở Y tế chỉ đạo các cơ quan báo, đài Thành phố và hệ thống thông tin cơ sở đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức, đề cao trách nhiệm của toàn xã hội và người dân Thành phố trong hoạt động nâng cao sức khỏe người dân.
Đưa các nội dung chính sách dân số lồng ghép tuyên truyền ở cơ sở để thực hiện chủ trương gia đình có đủ hai con, nuôi dạy con tốt, xây dựng gia đình tiến bộ, hạnh phúc; lồng ghép các nội dung khuyến sinh vào sinh hoạt cộng đồng dân cư, các tiêu chuẩn văn hóa trong thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” bao gồm danh hiệu “Gia đình văn hóa”, “Khu phố văn hóa, ấp văn hóa”, “Xã văn hóa nông thôn mới”, “Xã văn hóa - văn minh đô thị”.
Phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo triển khai các biện pháp đảm bảo an toàn thực phẩm trong trường học. Đồng thời, phối hợp tổ chức các chương trình đào tạo, tuyên truyền về an toàn thực phẩm cho cán bộ quản lý, nhân viên bếp ăn và học sinh.
Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, hậu kiểm, giám sát mối nguy ô nhiễm thực phẩm, nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các sản phẩm không đảm bảo an toàn ảnh hưởng sức khỏe người tiêu dùng. Thực hiện công tác kiểm tra các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm (rượu, bia, đồ uống có cồn,…), kinh doanh dịch vụ ăn uống, cơ sở cung cấp suất ăn công nghiệp, nhằm giảm nguy cơ, sự cố về an toàn thực phẩm, hạn chế các vụ ngộ độc thực phẩm cho cộng đồng, xử lý các trường hợp vi phạm theo quy định của pháp luật.
7. Các trường thuộc khối ngành Sức khỏe của Thành phố: chủ trì, phối hợp với Sở Y tế triển khai thí điểm các chương trình đào tạo phát triển nguồn nhân lực y tế chất lượng cao; liên kết hợp tác với các các trường đại học Y khoa có uy tín trên thế giới để đào tạo đội ngũ y bác sĩ theo tiêu chuẩn quốc tế.
8. Bảo hiểm xã hội Thành phố: phối hợp ngành y tế vận dụng các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế phù hợp để tạo điều kiện về nguồn lực tài chính cho công tác chăm sóc sức khỏe toàn diện người dân trên địa bàn Thành phố; triển khai BHYT tại các trạm y tế, các phòng khám chuyên khoa lao, HIV, sức khỏe sinh sản của tuyến y tế cơ sở; hướng dẫn sử dụng hiệu quả quỹ BHYT trong công tác y tế trường học; quỹ BHYT trong công tác chăm sóc sức khỏe
người lao động, người cao tuổi… cung cấp dữ liệu về tình hình khám chữa bệnh của người dân từ hệ thống dữ liệu BHYT lên hệ thống Hồ sơ sức khỏe điện tử VNeID.
9. Đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh và các tổ chức Chính trị - Xã hội: tổ chức các chiến dịch tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng sức khỏe sinh sản, chăm sóc trẻ em và trẻ vị thành niên. Tổ chức giám sát việc thực hiện các chính sách, chương trình liên quan đến sức khỏe sinh sản, chăm sóc trẻ em và trẻ vị thành niên tại cộng đồng.
10. Ủy ban nhân dân các phường, xã
Căn cứ kế hoạch của Thành phố, xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch trên địa bàn quản lý phù hợp với điều kiện thực tiễn địa phương; bố trí ngân sách thực hiện kế hoạch; tăng cường công tác thông tin tuyên truyền giúp người dân hiểu và thực hiện tốt các nội dung của kế hoạch; đẩy mạnh công tác phối hợp liên ngành và thường xuyên kiểm tra, theo dõi, đôn đốc thực hiện đạt các mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch đề ra.
Ủy ban nhân dân Thành phố yêu cầu các sở, ngành, Ủy ban nhân dân các phường, xã triển khai thực hiện các nội dung theo phân công; định kỳ hàng năm báo cáo kết quả thực hiện về Sở Y tế để tổng hợp, tham mưu Ủy ban nhân dân Thành phố chỉ đạo. Trong quá trình tổ chức thực hiện, các cơ quan, đơn vị kịp thời báo cáo Ủy ban nhân dân Thành phố xem xét, điều chỉnh, bổ sung những vấn đề mới liên quan Đề án phù hợp với tình hình thực tế của Thành phố.
CÁC CHỈ TIÊU CỦA ĐỀ ÁN ĐẾN NĂM 2030
|
TT |
Lĩnh vực/Chỉ tiêu |
Thực trạng |
Chỉ tiêu |
Đơn vị phụ trách |
Đơn vị phối hợp |
|||||
|
2020 |
2021 |
2022 |
2023 |
2024 |
2025 |
2030 |
|
|
||
|
1. |
Tỷ lệ cặp nam, nữ thanh niên được tư vấn về nội dung khám sức khỏe trước khi kết hôn (%) |
91,46 |
91,8 |
92 |
92,1 |
92 |
90 |
95 |
Sở Y tế |
Ủy ban nhân dân phường, xã |
|
2. |
Tổng tỷ suất sinh (số con/phụ nữ) |
1,53 |
1,48 |
1,39 |
1,32 |
1,39 |
1,4 |
1,6 |
Sở Y tế |
Ủy ban nhân dân phường, xã |
|
3. |
Tỷ lệ phụ nữ đẻ được khám thai ít nhất 04 lần/thai kỳ theo quy định (tầm soát thai kỳ nguy cơ cao, phát hiện và dự phòng tiền sản giật) (%) |
89,32 |
88,27 |
88,02 |
89,57 |
90,6 |
90 |
95 |
Sở Y tế |
Ủy ban nhân dân phường, xã |
|
4. |
Tỷ lệ phụ nữ mang thai được sàng lọc trước sinh (%) |
88,57 |
85,62 |
86,3 |
86,1 |
86,4 |
85 |
90 |
Sở Y tế |
Ủy ban nhân dân phường, xã |
|
5. |
Tỷ lệ trẻ tại TP.HCM được sàng lọc sơ sinh (%) |
85,38 |
82,78 |
83,4 |
83,9 |
83,98 |
85 |
90 |
Sở Y tế |
Ủy ban nhân dân phường, xã |
|
6. |
Tỷ lệ tiêm chủng các loại vắc xin trong chương trình tiêm chủng mở rộng theo quy định của Bộ Y tế (%) |
97 |
82,4[2] |
89,3[3] |
94,7[4] |
96,7 |
≥ 95 |
≥95 |
Sở Y tế |
Ủy ban nhân dân phường, xã |
|
7. |
Tỷ lệ trẻ sơ sinh sàng lọc các bệnh tật để can thiệp, điều trị và phục hồi chức năng kịp thời (%) |
- |
- |
- |
- |
- |
> 50 |
> 80 |
Sở Y tế |
Ủy ban nhân dân phường, xã |
|
8. |
Tỷ lệ trẻ em dưới 24 tháng đang sinh sống tại TP.HCM được khám sức khỏe định kỳ ít nhất 1 lần trong 2 năm đầu đời (%) |
- |
- |
- |
- |
30 |
50 |
70 |
Sở Y tế |
Ủy ban nhân dân phường, xã |
|
9. |
Tỷ lệ học sinh được khám sức khỏe; sàng lọc sức khỏe tâm thần và tạo lập dữ liệu đầy đủ trên hệ thống (%): - Tỷ lệ học sinh được khám, kiểm tra sức khỏe vào đầu mỗi năm học. - Tỷ lệ học sinh được khám, kiểm tra sức khỏe và tạo lập dữ liệu đầy đủ trên hệ thống |
98.9 - |
93,5 - |
68 - |
93,14 - |
97,9 - |
98 |
>98 |
Sở Y tế |
Sở Giáo dục và Đào tạo Ủy ban nhân dân phường, xã |
|
10. |
Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi của trẻ em dưới 5 tuổi (%) |
6,5 |
Không có số liệu |
6,6 |
6,0 |
5,8 |
< 8 |
< 7 |
Sở Y tế |
Ủy ban nhân dân phường, xã |
|
11. |
Tỷ lệ trẻ thừa cân, béo phì (%) |
|
|
|
|
|
|
|
Sở Y tế |
Ủy ban nhân dân phường, xã |
|
Dưới 5 tuổi |
12,2 |
14 |
14,6 |
11,3 |
12 |
<14 |
<14 |
|
|
|
|
Từ 5-18 tuổi |
34,3 |
34,3 |
31,8 |
36,5 |
39,9 |
< 40 |
< 40 |
|
|
|
|
Từ 19-64 tuổi |
- |
- |
- |
- |
- |
< 35 |
< 35 |
|
|
|
|
12. |
Tỷ lệ trường học có nhân viên y tế chuyên trách (chuyên môn y từ y sỹ trung cấp trở lên) về công tác y tế trường học theo quy định. (%) |
Chưa tách ra được số chuyên trách |
Chưa tách ra được số chuyên trách |
Chưa tách ra được số chuyên trách |
51 |
53 |
60 |
80 |
Sở Giáo dục và Đào tạo |
Ủy ban nhân dân phường, xã |
|
13. |
Tỷ lệ các cơ sở giáo dục được bảo đảm điều kiện làm việc tối thiểu cho công tác y tế trường học, trang thiết bị, dụng cụ sơ cấp cứu thông thường, thuốc thiết yếu (%) |
92,08 |
99,15 |
97,63 |
92,32 |
97,25 |
> 95 |
> 95 |
Sở Giáo dục và Đào tạo |
Sở Y tế và Ủy ban nhân dân phường, xã |
|
14. |
Tỷ lệ trường học có tổ chức bữa ăn học đường và căn tin trường học bảo đảm các điều kiện về vệ sinh, an toàn thực phẩm theo quy định, xây dựng thực đơn đáp ứng nhu cầu theo khuyến nghị của Bộ Y tế về đảm bảo dinh dưỡng hợp lý theo lứa tuổi và đa dạng thực phẩm (%) |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
- Trường học ở khu vực nội thành |
|
|
|
|
|
60 |
70 |
Sở Giáo dục và Đào tạo |
Sở Y tế Sở ATTP |
|
|
- Trường học ở khu vực ngoại thành |
|
|
|
|
|
40 |
50 |
Sở Giáo dục và Đào tạo |
Sở Y tế Sở ATTP |
|
|
15. |
Tuổi thọ bình quân |
76,5 |
76,2 |
76,3 |
76,5 |
76,6 |
76,8 |
77 |
Sở Y tế |
Ủy ban nhân dân phường, xã |
|
16. |
Tuổi thọ khỏe mạnh |
- |
65,4 |
- |
- |
- |
67 |
68 |
Sở Y tế |
Ủy ban nhân dân phường, xã |
DANH SÁCH CÁC NGHỊ QUYẾT DỰ KIẾN TRÌNH HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
|
STT |
Tên Nghị quyết |
Thời gian dự kiến trình |
|
1 |
Chính sách đặc thù hỗ trợ kinh phí khám, kiểm tra sức khỏe cho trẻ mầm non, học sinh tiểu học (bao gồm chăm sóc và điều trị dự phòng răng miệng), trung học cơ sở, trung học phổ thông công lập, ngoài công lập và học giáo dục thường xuyên (cấp trung học phổ thông) trên địa bàn Thành phố từ năm học 2025-2026 |
Tháng 5-6 năm 2025 |
|
2 |
Xây dựng giá gói dịch vụ khám, kiểm tra sức khỏe học sinh (bao gồm chăm sóc, điều trị dự phòng răng miệng) và giá gói dịch vụ khám, kiểm tra sức khỏe (không bao gồm chăm sóc, điều trị dự phòng răng miệng) học sinh |
|
|
3 |
Chính sách đặc thù hỗ trợ kinh phí khám sức khỏe cho các cặp nam nữ trước khi kết hôn và tiêm vắc xin phòng bệnh truyền nhiễm cho phụ nữ trước khi mang thai trên địa bàn Thành phố từ năm 2025. |
Tháng 12 năm 2025 |
|
4 |
Chính sách đặc thù hỗ trợ kinh phí tiêm vắc xin phòng các bệnh do HPV cho trẻ từ 11 tuổi đến 18 tuổi trên địa bàn Thành phố (Bộ Y tế đang đề xuất triển khai thực hiện từ năm 2026. Do đó, nếu đến năm 2026 Bộ Y tế chưa có Kế hoạch triển khai thì Sở Y tế sẽ trình Nghị quyết).[5] |
Năm 2026 |
[1] Căn cứ Khoản 2, Điều 1, Nghị Quyết 104/NQ-CP ngày 15 tháng 8 năm 2022 của Chính Phủ về lộ trình tăng số lượng vắc xin trong chương trình tiêm chủng mở rộng giai đoạn 2021-2030
[2] Tổ chức tiêm bù đến tháng 12 năm 2022 đã đạt 95%
[3] Tổ chức tiêm bù đến tháng 4 năm 2023 đã đạt 97%
[4] Tổ chức tiêm bù đến tháng 02 năm 2024 đã đạt 95,2%
[5] Căn cứ Khoản 2, Điều 1, Nghị Quyết 104/NQ-CP ngày 15 tháng 8 năm 2022 của Chính Phủ về lộ trình tăng số lượng vắc xin trong chương trình tiêm chủng mở rộng giai đoạn 2021-2030
Đăng xuất
Việc làm Hồ Chí Minh