Dự thảo Luật Thủ đô
| Số hiệu | Khongso |
| Ngày ban hành | 08/02/2026 |
| Ngày có hiệu lực | |
| Loại văn bản | Luật |
| Cơ quan ban hành | Quốc hội |
| Người ký | *** |
| Lĩnh vực | Bộ máy hành chính |
|
QUỐC HỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAM |
|
Luật số: /2026/QH16 |
Hà Nội, ngày tháng năm 2026 |
|
DỰ THẢO |
|
LUẬT
THỦ ĐÔ
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật Thủ đô.
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Luật này quy định vị trí, vai trò của Thủ đô; cơ chế, chính sách, thẩm quyền, trách nhiệm xây dựng, phát triển, quản trị và bảo vệ Thủ đô.
Điều 2. Vị trí, vai trò, biểu tượng của Thủ đô
1. Thủ đô nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Hà Nội.
2. Thủ đô là trung tâm chính trị - hành chính quốc gia, nơi đặt trụ sở của các cơ quan Trung ương của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan đại diện ngoại giao, tổ chức quốc tế; là trung tâm lớn về kinh tế; dẫn đầu cả nước, vươn tầm khu vực và quốc tế về văn hoá, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, giáo dục, y tế và giao dịch quốc tế.
3. Biểu tượng của Thủ đô là hình ảnh Khuê Văn Các tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám.
Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Đô thị trung tâm là khu vực đô thị đảm nhiệm các chức năng chính của Thủ đô, gồm khu vực nội đô lịch sử và các khu vực liền kề khác được xác định trong Quy hoạch tổng thể Thủ đô.
2. Khu vực nội đô lịch sử là khu vực bảo tồn di sản văn hóa Thăng Long - Hà Nội, các giá trị truyền thống của người Hà Nội được xác định trong Quy hoạch tổng thể Thủ đô.
3. Vùng Thủ đô là khu vực liên kết phát triển kinh tế - xã hội gồm thành phố Hà Nội và các tỉnh Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hưng Yên, Ninh Bình.
4. Cơ sở giáo dục chất lượng cao là cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông đạt các tiêu chí về cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, chương trình giảng dạy, phương pháp giảng dạy và dịch vụ giáo dục chất lượng cao.
5. Vùng phát thải thấp là khu vực được xác định để hạn chế các phương tiện giao thông gây ô nhiễm môi trường nhằm cải thiện chất lượng không khí.
6. Dự án lớn, quan trọng là các dự án:
a) Dự án đầu tư công theo quy định của Luật Đầu tư công, dự án PPP theo quy định của Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư sử dụng vốn ngân sách địa phương, nguồn vốn hợp pháp khác của địa phương; dự án đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư cần triển khai ngay theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng, Đảng ủy Chính phủ, Ban chấp hành Đảng bộ Thành phố Hà Nội;
b) Dự án đầu tư công, dự án PPP sử dụng vốn ngân sách địa phương, nguồn vốn hợp pháp khác của địa phương trên địa bàn Thủ đô, Vùng Thủ đô đáp ứng tiêu chí phân loại dự án quan trọng quốc gia theo quy định của pháp luật về đầu tư công;
c) Dự án đầu tư thuộc danh mục lĩnh vực, ngành nghề thu hút nhà đầu tư chiến lược theo quy định của Hội đồng nhân dân Thành phố.
7. Khu công nghệ cao tại Thành phố gồm các loại hình: khu công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
8. Không gian tầm thấp là phần không gian trên bề mặt đất, mặt nước thuộc địa giới hành chính Thủ đô theo quy hoạch của Thủ đô, được sử dụng cho mục đích quản lý, khai thác, sử dụng trong các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, quản lý đô thị, khoa học – công nghệ, giao thông thông minh gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
9. Kinh tế bạc là tổng thể các hoạt động kinh tế, ngành nghề, sản phẩm, dịch vụ phục vụ nhu cầu của người cao tuổi và hỗ trợ, phát huy người lao động cao tuổi, gắn với phát triển đô thị bền vững, an sinh xã hội, chăm sóc sức khỏe, đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô và vùng Thủ đô.
Điều 4. Nguyên tắc phân quyền cho chính quyền Thủ đô
1. Bảo đảm phù hợp với quy định của Hiến pháp, không làm ảnh hưởng đến việc thực hiện các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
|
QUỐC HỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAM |
|
Luật số: /2026/QH16 |
Hà Nội, ngày tháng năm 2026 |
|
DỰ THẢO |
|
LUẬT
THỦ ĐÔ
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật Thủ đô.
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Luật này quy định vị trí, vai trò của Thủ đô; cơ chế, chính sách, thẩm quyền, trách nhiệm xây dựng, phát triển, quản trị và bảo vệ Thủ đô.
Điều 2. Vị trí, vai trò, biểu tượng của Thủ đô
1. Thủ đô nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Hà Nội.
2. Thủ đô là trung tâm chính trị - hành chính quốc gia, nơi đặt trụ sở của các cơ quan Trung ương của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan đại diện ngoại giao, tổ chức quốc tế; là trung tâm lớn về kinh tế; dẫn đầu cả nước, vươn tầm khu vực và quốc tế về văn hoá, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, giáo dục, y tế và giao dịch quốc tế.
3. Biểu tượng của Thủ đô là hình ảnh Khuê Văn Các tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám.
Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Đô thị trung tâm là khu vực đô thị đảm nhiệm các chức năng chính của Thủ đô, gồm khu vực nội đô lịch sử và các khu vực liền kề khác được xác định trong Quy hoạch tổng thể Thủ đô.
2. Khu vực nội đô lịch sử là khu vực bảo tồn di sản văn hóa Thăng Long - Hà Nội, các giá trị truyền thống của người Hà Nội được xác định trong Quy hoạch tổng thể Thủ đô.
3. Vùng Thủ đô là khu vực liên kết phát triển kinh tế - xã hội gồm thành phố Hà Nội và các tỉnh Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hưng Yên, Ninh Bình.
4. Cơ sở giáo dục chất lượng cao là cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông đạt các tiêu chí về cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, chương trình giảng dạy, phương pháp giảng dạy và dịch vụ giáo dục chất lượng cao.
5. Vùng phát thải thấp là khu vực được xác định để hạn chế các phương tiện giao thông gây ô nhiễm môi trường nhằm cải thiện chất lượng không khí.
6. Dự án lớn, quan trọng là các dự án:
a) Dự án đầu tư công theo quy định của Luật Đầu tư công, dự án PPP theo quy định của Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư sử dụng vốn ngân sách địa phương, nguồn vốn hợp pháp khác của địa phương; dự án đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư cần triển khai ngay theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng, Đảng ủy Chính phủ, Ban chấp hành Đảng bộ Thành phố Hà Nội;
b) Dự án đầu tư công, dự án PPP sử dụng vốn ngân sách địa phương, nguồn vốn hợp pháp khác của địa phương trên địa bàn Thủ đô, Vùng Thủ đô đáp ứng tiêu chí phân loại dự án quan trọng quốc gia theo quy định của pháp luật về đầu tư công;
c) Dự án đầu tư thuộc danh mục lĩnh vực, ngành nghề thu hút nhà đầu tư chiến lược theo quy định của Hội đồng nhân dân Thành phố.
7. Khu công nghệ cao tại Thành phố gồm các loại hình: khu công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
8. Không gian tầm thấp là phần không gian trên bề mặt đất, mặt nước thuộc địa giới hành chính Thủ đô theo quy hoạch của Thủ đô, được sử dụng cho mục đích quản lý, khai thác, sử dụng trong các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, quản lý đô thị, khoa học – công nghệ, giao thông thông minh gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
9. Kinh tế bạc là tổng thể các hoạt động kinh tế, ngành nghề, sản phẩm, dịch vụ phục vụ nhu cầu của người cao tuổi và hỗ trợ, phát huy người lao động cao tuổi, gắn với phát triển đô thị bền vững, an sinh xã hội, chăm sóc sức khỏe, đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô và vùng Thủ đô.
Điều 4. Nguyên tắc phân quyền cho chính quyền Thủ đô
1. Bảo đảm phù hợp với quy định của Hiến pháp, không làm ảnh hưởng đến việc thực hiện các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
2. Phân quyền tối đa, toàn diện và phân định rõ thẩm quyền của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân; tăng thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân. Không thực hiện phân quyền trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại, tôn giáo, dân tộc và các lĩnh vực khác liên quan trực tiếp đến chủ quyền quốc gia, lợi ích quốc gia theo quy định của pháp luật.
3. Việc phân quyền trong lĩnh vực kinh tế, tài chính, ngân sách, đầu tư và thị trường phải bảo đảm không làm ảnh hưởng đến ổn định kinh tế vĩ mô, an toàn tài chính quốc gia, nguyên tắc thị trường và các cam kết quốc tế của Việt Nam.
4. Việc phân quyền trong lĩnh vực văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, khoa học công nghệ, môi trường và an sinh xã hội phải bảo đảm quyền con người, quyền công dân, công bằng xã hội, phát triển bền vững và giữ gìn bản sắc, giá trị văn hóa của Thủ đô, vùng Thủ đô.
5. Việc thực hiện các nội dung phân quyền quy định tại Điều này phải chịu sự kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình theo quy định tại Chương VIII của Luật này.
Điều 5. Áp dụng Luật Thủ đô
1. Trường hợp có quy định khác nhau giữa Luật Thủ đô và luật, nghị quyết khác của Quốc hội về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của Luật Thủ đô.
2. Trường hợp luật, nghị quyết của Quốc hội ban hành sau ngày Luật Thủ đô có hiệu lực thi hành có quy định có quy định cơ chế, chính sách ưu đãi hoặc thuận lợi hơn quy định tại Luật này thì việc áp dụng do Hội đồng nhân dân Thành phố quyết định.
3. Văn bản quy định chi tiết, văn bản được giao ban hành để thi hành Luật Thủ đô có quy định khác với văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên về cùng một vấn đề thì được ưu tiên áp dụng trên địa bàn Thủ đô và vùng Thủ đô theo quy định của Luật này.
Chương II
TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN VÀ QUẢN TRỊ THỦ ĐÔ
Điều 6. Đơn vị hành chính thuộc thành phố Hà Nội
1. Đơn vị hành chính thuộc thành phố Hà Nội bao gồm xã, phường và đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.
2. Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt thuộc thành phố Hà Nội do Quốc hội quyết định thành lập tại địa bàn có vị trí chiến lược để thực hiện vai trò đô thị chức năng, là cực tăng trưởng mới của Thành phố theo Quy hoạch tổng thể Thủ đô; được tổ chức theo mô hình đặc thù, được áp dụng các cơ chế, chính sách vượt trội, thực hiện các chính sách mới về quản trị địa phương, thu hút đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh của Thủ đô.
Điều 7. Nhiệm vụ, quyền hạn về tổ chức bộ máy và chế độ công vụ
1. Hội đồng nhân dân Thành phố quy định:
a) Tỷ lệ đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách; số lượng, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn các Ban của Hội đồng nhân dân cấp Thành phố, cấp xã; tiêu chí xác định số lượng đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã;
b) Số lượng Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân; số lượng và cơ cấu Ủy viên Ủy ban nhân dân thành phố và cấp xã.
c) Tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố; số lượng, chức danh, tiêu chuẩn chức danh, chế độ, chính sách của người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố phù hợp với mức độ đô thị hóa, điều kiện thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố;
d) Số lượng, việc thành lập, tổ chức lại, giải thể cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban nhân dân Thành phố, Ủy ban nhân dân cấp xã; quyết định thay đổi tên gọi, điều chỉnh chức năng của các cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính hiện có;
đ) Việc thành lập các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Uỷ ban nhân dân Thành phố, Ủy ban nhân dân cấp xã;
e) Chế độ tự chủ đối với đơn vị sự nghiệp công lập;
g) Chính sách về thu nhập đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động hưởng lương từ ngân sách Thành phố;
h) Chế độ quản lý, sử dụng công chức, viên chức theo nguyên tắc người trực tiếp sử dụng công chức, viên chức thực hiện tuyển dụng, đánh giá; thí điểm chế độ công chức hợp đồng;
i) Việc thuê, tuyển dụng và bổ nhiệm người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước của Thành phố; thí điểm ký hợp đồng đối với các chức vụ quản lý ở các cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính thuộc Ủy ban nhân dân Thành phố, Ủy ban nhân dân cấp xã.
2. Ủy ban nhân dân Thành phố có thẩm quyền:
a) Thành lập các đơn vị sự nghiệp theo quy định của Hội đồng nhân dân Thành phố;
b) Quyết định danh mục vị trí việc làm, bản mô tả công việc và khung năng lực của vị trí việc làm và tỷ lệ công chức bố trí theo vị trí việc làm;
c) Quy định về chính sách, biện pháp tổ chức thực hiện nền hành chính số và công vụ số.
Điều 8. Xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật
1. Hội đồng nhân dân Thành phố, Ủy ban nhân dân Thành phố được ban hành văn bản quy phạm pháp luật để quy định mới hoặc quy định khác với quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ để phục vụ xây dựng, phát triển Thủ đô, liên kết Vùng Thủ đô.
2. Ủy ban nhân dân Thành phố có thẩm quyền ban hành quy chuẩn, tiêu chuẩn áp dụng tại Thành phố khác quy chuẩn, tiêu chuẩn quốc gia; lựa chọn áp dụng quy chuẩn, tiêu chuẩn nước ngoài; ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật, đơn giá, giá dịch vụ sự nghiệp áp dụng cho Thủ đô khác hoặc chưa có trong quy định của trung ương.
3. Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này phải bảo đảm nguyên tắc sau đây:
a) Phù hợp với yêu cầu phát triển, quản trị và đặc điểm của Thủ đô; ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số;
b) Bảo đảm trật tự an toàn, bảo vệ môi trường, sức khỏe cộng đồng, quốc phòng, an ninh và quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân;
c) Có tiêu chí đánh giá rõ ràng, có cơ chế giám sát, giải trình và có phương án sửa đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt khi không đạt mục tiêu hoặc phát sinh rủi ro;
d) Việc ban hành văn bản quy định tại khoản 2 Điều này phải bảo đảm khả thi; bảo đảm liên thông, kết nối kỹ thuật, quản lý và dữ liệu với cơ quan trung ương, các địa phương khác và hệ thống quốc gia.
Điều 9. Thí điểm cơ chế, chính sách
1. Hội đồng nhân dân Thành phố thí điểm cơ chế, chính sách khác luật, nghị quyết của Quốc hội hoặc chưa được pháp luật quy định để áp dụng trong phạm vi thành phố Hà Nội và vùng Thủ đô.
Việc thí điểm cơ chế, chính sách phải bảo đảm tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
a) Bảo đảm tính hợp hiến;
b) Bảo đảm quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân;
c) Không phương hại đến an ninh quốc gia, an ninh và trật tự, an toàn xã hội của Thủ đô;
2. Lĩnh vực thí điểm cơ chế, chính sách:
a) Tổ chức bộ máy; các mô hình quản trị tiên tiến, hiện đại;
b) Phát triển các mô hình kinh tế mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, giáo dục, văn hóa;
c) Mô hình quản lý không gian và phát triển bền vững;
d) Mô hình, phương thức huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực đặc thù cho phát triển Thủ đô;
đ) Mô hình liên kết, điều phối phát triển vùng Thủ đô;
e) Các lĩnh vực khác do Hội đồng nhân dân Thành phố quyết định.
3. Phạm vi thí điểm cơ chế, chính sách được thực hiện trên địa bàn Thành phố và vùng Thủ đô, ưu tiên thí điểm ở các khu vực động lực phát triển, cực tăng trưởng của Thủ đô theo Quy hoạch tổng thể Thủ đô.
4. Chính quyền Thành phố có trách nhiệm sau đây:
a) Hội đồng nhân dân Thành phố phê duyệt Đề án thí điểm cụ thể, bao gồm: mục tiêu, nội dung, phạm vi thời gian, không gian thí điểm, cơ chế kiểm soát, chế độ trách nhiệm pháp lý, phương án giảm thiểu rủi ro và cơ chế xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình thí điểm; giám sát và quyết định điều chỉnh nội dung, thời gian, phạm vi thí điểm hoặc dừng việc thí điểm thể chế trong quá trình thực hiện để bảo đảm hiệu quả và phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô.
Trường hợp thí điểm cơ chế, chính sách áp dụng cho vùng Thủ đô, Hội đồng nhân dân Thành phố có trách nhiệm đánh giá tác động kinh tế - xã hội vùng, quốc gia, lấy ý kiến thống nhất của các địa phương có liên quan và tham vấn ý kiến cơ quan có thẩm quyền liên quan trước khi phê duyệt Đề án.
b) Uỷ ban nhân dân Thành phố ban hành quy định thí điểm áp dụng đối với mỗi đề án thí điểm cơ chế, chính sách; tổ chức thực hiện thí điểm; bảo đảm sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan trong tổ chức thực hiện thí điểm; báo cáo, giải trình với các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về quá trình, kết quả thí điểm và trách nhiệm xử lý theo thẩm quyền các vấn đề phát sinh trong quá trình thí điểm.
5. Ủy ban nhân dân Thành phố đánh giá kết quả, hiệu quả việc thực hiện thí điểm cơ chế, chính sách, mức độ hoàn thành mục tiêu và tác động đối với phát triển Thủ đô, vùng Thủ đô, trình cấp có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản pháp luật mới áp dụng trên phạm vi toàn quốc.
Điều 10. Quản trị Thủ đô
Ủy ban nhân dân Thành phố quyết định các cơ chế, chính sách, biện pháp quản trị Thủ đô sau đây:
1. Phương thức quản trị tiên tiến dựa trên dữ liệu số, ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo; quy định về an toàn, quản lý rủi ro, biện pháp ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước trên địa bàn; quyền, nghĩa vụ chia sẻ dữ liệu của các cơ quan, tổ chức, cá nhân để phục vụ quản lý.
2. Thay đổi trình tự, thủ tục, thẩm quyền đang được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức hành chính thuộc Thành phố, bảo đảm yêu cầu về cải cách hành chính, hiệu quả quản trị Thủ đô.
3. Quy định cơ chế, biện pháp phát huy dân chủ ở cơ sở, huy động sự tham gia của người dân trong quản trị địa phương; cơ chế khoán việc và cơ chế khác để phát huy vai trò tự quản của thôn, tổ dân phố.
Điều 11. Bảo đảm trật tự, an toàn Thủ đô
1. Hội đồng nhân dân Thành phố quy định biện pháp đặc thù về bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ môi trường, biện pháp hành chính cấp bách phù hợp với yêu cầu bảo vệ Thủ đô, bảo đảm hiệu lực quản lý đô thị, an toàn cộng đồng và trật tự xã hội, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu giữ vững an ninh, trật tự xã hội với bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố, cấp xã quyết định áp dụng biện pháp đặc thù về bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ môi trường, biện pháp hành chính cấp bách theo quy định của Hội đồng nhân dân Thành phố.
3. Hội đồng nhân dân Thành phố quy định mức tiền phạt vi phạm hành chính cao hơn nhưng không quá 02 lần mức tiền phạt chung và thẩm quyền phạt tiền tương ứng do Chính phủ quy định trên địa bàn Thành phố.
4. Trong trường hợp cần thiết để bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn Thành phố, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp được áp dụng biện pháp yêu cầu ngừng cung cấp dịch vụ điện, nước đối với công trình, cơ sở sản xuất, kinh doanh sau đây:
a) Công trình xây dựng sai quy hoạch, công trình xây dựng không có giấy phép xây dựng đối với trường hợp theo quy định phải có giấy phép hoặc xây dựng sai với nội dung trong giấy phép xây dựng; công trình xây dựng sai với thiết kế xây dựng được phê duyệt đối với trường hợp được miễn giấy phép xây dựng;
b) Công trình xây dựng trên đất bị lấn, chiếm theo quy định của pháp luật về đất đai;
c) Công trình xây dựng thuộc diện phải thẩm duyệt hoặc thẩm định thiết kế về phòng cháy, chữa cháy nhưng được tổ chức thi công khi chưa có giấy chứng nhận hoặc văn bản thẩm duyệt hoặc văn bản thẩm định thiết kế về phòng cháy, chữa cháy của cơ quan quản lý chuyên ngành;
d) Công trình thi công không đúng theo thiết kế về phòng cháy, chữa cháy đã được thẩm duyệt hoặc thẩm định;
đ) Công trình xây dựng, phần công trình xây dựng, hạng mục công trình xây dựng, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ chưa có văn bản chấp thuận kết quả nghiệm thu về phòng cháy, chữa cháy của cơ quan quản lý chuyên ngành mà đã đưa vào hoạt động;
e) Cơ sở kinh doanh dịch vụ vũ trường, kinh doanh dịch vụ ka-ra-ô-kê (karaoke) không bảo đảm các điều kiện an toàn về phòng cháy, chữa cháy;
g) Cở sở sản xuất, kinh doanh, công trình xây dựng vi phạm trong lĩnh vực môi trường mà không thực hiện yêu cầu về việc dừng hành vi vi phạm, quyết định của cơ quan có thẩm quyền về đình chỉ hoạt động hoặc biện pháp khắc phục hậu quả;
h) Công trình thuộc trường hợp phải phá dỡ và đã có quyết định di dời khẩn cấp của cơ quan có thẩm quyền.
5. Người cung cấp dịch vụ điện, nước có trách nhiệm ngừng cung cấp dịch vụ ngay khi có yêu cầu của người có thẩm quyền quy định tại khoản 4 Điều này bảo đảm đúng phạm vi, đối tượng, thời hạn. Quyền ngừng cung cấp dịch vụ điện, nước của người cung cấp dịch vụ điện, nước trong các trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này phải được thông báo cho người sử dụng dịch vụ và thể hiện trong hợp đồng sử dụng dịch vụ điện, nước.
6. Hội đồng nhân dân Thành phố quy định chi tiết khoản 4 và khoản 5 Điều này.
Chương III
QUY HOẠCH, XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Điều 12. Quy hoạch Thủ đô
1. Việc xây dựng và phát triển Thủ đô phải thực hiện theo Quy hoạch tổng thể Thủ đô.
Quy hoạch tổng thể Thủ đô có tầm nhìn dài hạn, ổn định, là căn cứ để lập, thẩm định, phê duyệt các quy hoạch đô thị và nông thôn. Quy hoạch các địa phương trong vùng Thủ đô phải bảo đảm kết nối với Quy hoạch tổng thể Thủ đô.
2. Việc điều chỉnh quy hoạch tổng thể Thủ đô chỉ được thực hiện trong trường hợp thật cần thiết vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng đặc biệt quan trọng, yêu cầu quốc phòng, an ninh hoặc khi có biến động lớn về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội.
3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố phê duyệt Quy hoạch tổng thể Thủ đô hoặc điều chỉnh Quy hoạch tổng thể Thủ đô sau khi lấy ý kiến của các Bộ, cơ quan ngang Bộ có liên quan và được Hội đồng nhân dân Thành phố thông qua.
4. Ủy ban nhân dân Thành phố có thẩm quyền:
a) Quy định về điều kiện, biện pháp, hồ sơ, quy trình, thủ tục tổ chức lập, điều chỉnh quy hoạch đô thị và nông thôn;
b) Quyết định trường hợp lựa chọn phương án kiến trúc không qua thi tuyển;
d) Tổ chức rà soát, đánh giá tác động di sản, xác định giá trị di tích, di sản cần bảo tồn, xếp hạng đối với công trình, hạng mục công trình trước khi thực hiện di dời cơ sở, trụ sở quy định tại điểm c khoản này.
5. Hội đồng nhân dân Thành phố quy định chi tiết khoản 2 Điều này; cơ chế, chính sách thực hiện việc di dời cơ sở, trụ sở quy định tại điểm c khoản 4 Điều này.
Điều 13. Quản lý, sử dụng không gian ngầm, không gian tầm thấp
1. Việc quản lý, sử dụng không gian ngầm, không gian tầm thấp phải tuân theo các nguyên tắc sau đây:
a) Dựa trên cơ sở đánh giá đầy đủ về điều kiện tự nhiên, địa chất, địa mạo, thủy văn;
b) Phù hợp với các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch;
c) Bảo đảm quốc phòng, an ninh; ưu tiên các công trình có tính lưỡng dụng, có khả năng sẵn sàng chuyển sang phục vụ nhu cầu quốc phòng, an ninh; bảo tồn không gian văn hóa và cảnh quan môi trường, di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; bảo đảm kết nối đồng bộ với không gian trên mặt đất với các không gian xây dựng công trình ngầm, không gian tầm thấp có liên quan;
d) Việc khai thác sử dụng không gian ngầm, không gian tầm thấp được Nhà nước khuyến khích đầu tư phát triển, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân và được quản lý theo quy định của Luật này.
Tổ chức, cá nhân được Nhà nước cho phép sử dụng lòng đất ngoài giới hạn độ sâu do Ủy ban nhân dân Thành phố quy định để xây dựng công trình ngầm phải trả tiền sử dụng không gian ngầm, trừ trường hợp được miễn, giảm tiền sử dụng không gian ngầm đối với công trình ngầm không nhằm mục đích kinh doanh, thuộc danh mục khuyến khích đầu tư xây dựng hoặc trường hợp khác do Ủy ban nhân dân Thành phố quy định.
3. Không gian tầm thấp phải được quy hoạch, phân vùng quản lý, khai thác, sử dụng để phát triển kinh tế, nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
Trên cơ sở thống nhất ý kiến của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Ủy ban nhân dân Thành phố quy định độ cao, phân vùng chức năng, biện pháp quản lý, cấp phép khai thác, sử dụng không gian tầm thấp phù hợp với quy hoạch của Thủ đô, yêu cầu bảo đảm an toàn hàng không, quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội; quy định về quản lý hạ tầng, công nghệ, phương tiện hoạt động trong không gian tầm thấp.
4. Hội đồng nhân dân Thành phố quy định chính sách ưu đãi, hỗ trợ, khuyến khích đầu tư, phát triển công trình ngầm, khai thác không gian tầm thấp.
Điều 14. Cải tạo, chỉnh trang, tái thiết đô thị
1. Việc cải tạo, chỉnh trang, tái thiết đô thị trên địa bàn Thành phố phải bảo đảm nguyên tắc sau:
a) Phù hợp quy hoạch, quy chế quản lý kiến trúc, thiết kế đô thị; Bảo đảm quy chuẩn, tiêu chuẩn về xây dựng, phòng cháy, chữa cháy;
b) Bảo vệ các di sản văn hóa, lịch sử, thiên nhiên, kiến trúc, cảnh quan của Thủ đô;
c) Bảo đảm hài hòa lợi ích người dân, Nhà nước, doanh nghiệp; ưu tiên tái định cư tại chỗ; nâng cao tiện ích đô thị, cải thiện môi trường sống, sinh kế cho dân cư ở khu vực cải tạo, chỉnh trang;
d) Có chính sách ưu tiên, hỗ trợ tổ chức, cộng đồng dân cư tự đề xuất, tự thực hiện dự án cải tạo, chỉnh trang, tái thiết đô thị.
2. Khi đầu tư xây dựng mới trục đường bộ, đường sắt đô thị hoặc mở rộng trục đường bộ hiện có theo quy hoạch trên địa bàn Thành phố, cơ quan lập quy hoạch phải xác định vị trí, ranh giới, diện tích đất thu hồi trong vùng phụ cận đường bộ, đường sắt đô thị để thực hiện cải tạo, chỉnh trang đô thị, tái định cư tại chỗ, phát triển nhà ở, thương mại, dịch vụ.
Khi triển khai dự án phát triển đường bộ, đường sắt đô thị theo quy hoạch đã được phê duyệt, cơ quan có thẩm quyền của Thành phố đồng thời tổ chức thu hồi đất vùng phụ cận để sử dụng theo quy hoạch. Việc thu hồi đất trong trường hợp này được áp dụng như trường hợp thu hồi đất trong cùng dự án phát triển đường bộ, đường sắt đô thị.
3. Hội đồng nhân dân Thành phố quy định chính sách, biện pháp, tiêu chí, điều kiện thực hiện dự án cải tạo, chỉnh trang, tái thiết đô thị trên địa bàn Thành phố; quyết định danh mục dự án, lộ trình thực hiện.
4. Ủy ban nhân dân Thành phố quy định trình tự, thủ tục thực hiện dự án cải tạo, chỉnh trang, tái thiết đô thị; quy định biện pháp thực hiện cưỡng chế di dời phục vụ dự án cải tạo, chỉnh trang, tái thiết đô thị.
Điều 15. Phát triển đô thị, nhà ở
1. Ưu tiên đầu tư xây dựng các khu đô thị, khu nhà ở đa chức năng, đa mục tiêu, khu nhà ở xã hội theo hướng hiện đại, thuận tiện, đồng bộ với việc xây dựng hạ tầng kỹ thuật đô thị và hạ tầng xã hội.
2. Việc phát triển đô thị theo mô hình định hướng giao thông công cộng (TOD) được thực hiện theo quy định sau đây:
a) Ưu tiên phát triển theo mô hình đô thị nén gắn với nhà ga, đề-pô đường sắt đô thị theo quy hoạch;
b) Áp dụng các chỉ tiêu quy hoạch kiến trúc, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, các yêu cầu về không gian và sử dụng đất khác với quy định hoặc chưa được quy định tại quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng, trên cơ sở khai thác đồng bộ không gian ngầm, không gian tầm thấp, không gian tầm cao nhưng phải bảo đảm chỉ tiêu về hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật, kết nối hạ tầng của khu vực; ưu tiên không gian mặt đất cho không gian công cộng, cây xanh và chất lượng sống đô thị;
c) Trong khu vực TOD, được thu các khoản thu đối với diện tích sàn xây dựng tăng thêm của các dự án xây dựng công trình dân dụng do việc tăng hệ số sử dụng đất và các chỉ tiêu quy hoạch; khoản thu từ việc khai thác giá trị tăng thêm từ đất; phí cải thiện hạ tầng, khoản thu từ khai thác tài sản kết cấu hạ tầng đường sắt đô thị, phí kết nối giao thông công cộng và các khoản thu khác để phát triển hệ thống đường sắt đô thị và việc kết nối đồng bộ hạ tầng giao thông.
d) Hội đồng nhân dân Thành phố quy định chi tiết khoản này; quy định phạm vi của khu vực TOD.
3. Hội đồng nhân dân Thành phố quyết định cơ chế, chính sách về đầu tư, phát triển quỹ nhà ở trên địa bàn Thành phố; biện pháp ưu đãi, hỗ trợ phát triển nhà ở xã hội, nhà ở công vụ, nhà ở tái định cư, nhà lưu trú cho người lao động và các loại hình nhà ở khác; chính sách hỗ trợ nhà ở; quyết định sử dụng ngân sách Thành phố để đầu tư hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội thiết yếu phục vụ các dự án nhà ở theo quy hoạch.
4. Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội quyết định việc tổ chức, điều tiết cơ cấu quỹ nhà ở xã hội, nhà ở tái định cư, nhà ở thương mại trên địa bàn để sử dụng linh hoạt, đáp ứng nhu cầu thực tế của Nhân dân; quyết định các biện pháp tạo lập, quản lý, khai thác quỹ nhà ở phục vụ mục tiêu an sinh xã hội và phát triển đô thị.
Điều 16. Phát triển hạ tầng giao thông
Hội đồng nhân dân Thành phố quy định các nội dung sau đây:
1. Chính sách đầu tư và huy động nguồn lực để đầu tư xây dựng, phát triển, bảo trì, bảo dưỡng các công trình hạ tầng kỹ thuật, các công trình bảo đảm an toàn giao thông, chống ùn tắc giao thông, các công trình ngầm công cộng trên địa bàn Thành phố.
2. Chính sách phát triển hệ thống vận tải hành khách công cộng khối lượng lớn; khuyến khích, ưu tiên đầu tư xây dựng, khai thác đường sắt đô thị, xe buýt, nhà ga, bến xe, bãi đỗ xe ô tô sử dụng đất đa mục đích, đa chức năng, khai thác không gian ngầm, không gian trên cao; vận tải hàng không tầm thấp; hạn chế phương tiện giao thông cá nhân vào khu vực trung tâm để giảm ùn tắc giao thông, giảm phát thải; áp dụng phí giảm ùn tắc giao thông.
3. Chính sách đầu tư phát triển đường vành đai, trung tâm logistic, hệ thống giao thông công cộng trên địa bàn Thành phố và kết nối với các tỉnh, thành phố có hoạt động liên kết, phát triển vùng với Thủ đô.
4. Khuyến khích áp dụng công nghệ cao trong quản lý, điều hành hệ thống giao thông vận tải;
5. Chính sách quản lý, khai thác đường đô thị, đường sắt đô thị, bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, văn minh đô thị.
Điều 17. Bảo vệ môi trường Thủ đô và vùng Thủ đô
1. Quản lý và bảo vệ môi trường Thủ đô, vùng Thủ đô được thực hiện theo nguyên tắc phát triển bền vững, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu gắn với việc duy trì các yếu tố tự nhiên, đa dạng sinh học, văn hóa, lịch sử của Thủ đô; bảo đảm tỷ lệ không gian xanh theo quy hoạch.
2. Hội đồng nhân dân Thành phố có trách nhiệm sau đây:
a) Quy định tiêu chí, điều kiện, trình tự, thủ tục xác định vùng phát thải thấp; quyết định phạm vi vùng phát thải thấp và các biện pháp được áp dụng trong vùng theo lộ trình phù hợp;
b) Quyết định chính sách hỗ trợ tổ chức, cá nhân thực hiện chuyển đổi phương tiện giao thông từ sử dụng nhiên liệu hóa thạch sang sử dụng năng lượng sạch; quy định các biện pháp hạn chế sử dụng phương tiện giao thông phát thải gây ô nhiễm môi trường; hỗ trợ đầu tư phát triển hạ tầng giao thông sử dụng năng lượng sạch, giao thông phi cơ giới;
c) Quy định các biện pháp hỗ trợ việc di dời các cơ sở sản xuất trong khu dân cư, cơ sở sản xuất thuộc ngành, nghề không khuyến khích phát triển tại làng nghề ở nông thôn;
d) Quy định biện pháp giảm phát thải nhựa trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và sinh hoạt trên địa bàn Thành phố; quy định biện pháp hỗ trợ, ưu đãi đối với hoạt động xử lý, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và tiêu dùng liên quan đến tái chế rác thải sử dụng kỹ thuật hiện có tốt nhất, quản lý chất thải rắn theo chuỗi phát sinh - thu gom - vận chuyển - xử lý.
đ) Quy định chính sách ưu đãi, hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn Thủ đô áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn, trong lĩnh vực công nghiệp môi trường và dịch vụ môi trường.
3. Việc phối hợp bảo vệ môi trường vùng Thủ đô đối với các vấn đề có tác động liên tỉnh, liên vùng, bao gồm quản lý và cải thiện chất lượng không khí theo vùng không khí chịu tác động; quản lý nước thải theo lưu vực sông và hệ thống thoát nước; quản lý chất thải rắn theo chuỗi phát sinh - thu gom - vận chuyển - xử lý.
Thành phố Hà Nội giữ vai trò điều phối trong cơ chế phối hợp vùng Thủ đô về môi trường, trên cơ sở bảo đảm hài hòa lợi ích, chia sẻ trách nhiệm và tuân thủ pháp luật.
4. Cơ chế phối hợp vùng Thủ đô trong quản lý môi trường bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây:
a) Chia sẻ, kết nối và sử dụng chung dữ liệu môi trường, nguồn thải và phát thải;
b) Thiết lập hệ thống quan trắc, giám sát ô nhiễm môi trường liên vùng;
c) Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch môi trường vùng, phù hợp với từng thành phần môi trường;
d) Phối hợp kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm môi trường, đối với các nguồn phát thải có ảnh hưởng liên vùng;
đ) Huy động, phân bổ và sử dụng chung nguồn lực cho các nhiệm vụ môi trường liên vùng.
5. Trường hợp ô nhiễm môi trường có diễn biến nghiêm trọng hoặc lan rộng trên phạm vi vùng, các địa phương trong Vùng Thủ đô có trách nhiệm phối hợp thực hiện các biện pháp ứng phó theo kế hoạch và kịch bản chung, do cơ quan có thẩm quyền thống nhất ban hành.
6. Thành lập Trung tâm Điều phối môi trường vùng Thủ đô để xây dựng chiến lược môi trường cho vùng Thủ đô; điều phối liên tỉnh trong giám sát, cảnh báo, dữ liệu môi trường và xử lý ô nhiễm môi trường trên địa bàn Thủ đô và vùng Thủ đô.
Ủy ban nhân dân Thành phố quyết định thành lập Trung tâm Điều phối môi trường vùng Thủ đô; quy định cụ thể tổ chức, hoạt động của Trung tâm Điều phối môi trường vùng Thủ đô, cơ chế điều phối, nội dung phối hợp, trách nhiệm của các bên liên quan và cơ chế giám sát việc thực hiện phối hợp vùng trong quản lý môi trường trên cơ sở thống nhất với Ủy ban nhân dân các tỉnh trong vùng Thủ đô.
7. Trên cơ sở thống nhất của thành phố Hà Nội và các tỉnh trong vùng Thủ đô, Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội, các tỉnh trong vùng Thủ đô quy định thống nhất biện pháp bảo vệ môi trường nghiêm ngặt hơn so với quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với:
a) Tiêu chí, điều kiện xác định cơ sở sản xuất công nghiệp, dự án đầu tư phải áp dụng biện pháp quan trắc tự động;
b) Mức phí áp dụng với khí thải công nghiệp, nước thải công nghiệp;
c) Lộ trình áp dụng quy chuẩn nước thải, khí thải, chất thải của vùng Thủ đô;
d) Cơ chế kiểm tra, giám sát chung của cơ quan quản lý nhà nước về môi trường;
đ) Áp dụng mức tiền phạt trong lĩnh vực môi trường theo quy định khoản 3 tại Điều 14 của Luật này.
8. Việc thành lập mới khu, cụm công nghiệp, trên địa bàn Thủ đô phải đáp ứng tiêu chí khu, cụm công nghiệp sinh thái. Các khu, cụm công nghiệp đang hoạt động phải chuyển đổi thành khu, cụm công nghiệp sinh thái theo lộ trình, bảo đảm đến năm 2035 đáp ứng các tiêu chí cơ bản theo quy định của Ủy ban nhân dân Thành phố.
Chương IV
PHÁT TRIỂN VĂN HÓA - XÃ HỘI
Điều 18. Phát triển văn hóa, thể thao, du lịch
2. Hội đồng nhân dân Thành phố ban hành danh mục di sản, khu vực có giá trị văn hóa, lịch sử, công trình kiến trúc có giá trị.
Ủy ban nhân dân Thành phố quy định yêu cầu, điều kiện, hồ sơ quản lý, biện pháp bảo vệ, trùng tu, tôn tạo, cải tạo, cơ chế hợp tác công - tư trong quản lý, khai thác, sử dụng công trình kiến trúc có giá trị.
3. Hội đồng nhân dân Thành phố quy định:
a) Biện pháp khuyến khích, huy động nguồn lực xã hội hóa, định mức, chế độ chi ngân sách để bảo vệ và phát triển văn hóa, thể thao của Thủ đô; việc hỗ trợ cá nhân, tổ chức cải tạo, bảo vệ khu vực, công trình kiến trúc có giá trị;
b) Điều kiện, thủ tục tặng, thu hồi danh hiệu Công dân danh dự, Công dân ưu tú Thủ đô để tôn vinh cá nhân có công trạng tiêu biểu, thành tích đặc biệt xuất sắc đóng góp vào sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Thủ đô;
c) Tổ chức, hoạt động, cơ chế quản lý, chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển khu phát triển thương mại và văn hóa, trung tâm công nghiệp văn hóa, các loại hình thiết chế văn hóa khác.
4. Ủy ban nhân dân Thành phố quyết định việc quản lý, cấp phép trong các lĩnh vực văn hóa, du lịch trên địa bàn Thành phố sau đây:
a) Tu bổ di tích cấp quốc gia, di tích quốc gia đặc biệt;
b) Cấp phép nghệ thuật biểu diễn, nhiếp ảnh, triển lãm, điện ảnh;
c) Cấp phép lữ hành quốc tế; công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch;
d) Lập, phê duyệt, điều chỉnh quy hoạch quảng cáo ngoài trời.
Điều 19. Phát triển giáo dục, đào tạo
2. Hội đồng nhân dân Thành phố quy định:
a) Mô hình, cơ chế quản lý, cơ chế tài chính của các trường chuyên từ cấp trung học cơ sở trở lên, cơ sở giáo dục nhiều cấp học, cơ sở giáo dục chất lượng cao, cơ sở thực hiện liên kết giáo dục;
b) Chính sách cấp học bổng, cơ chế khuyến khích, hỗ trợ học sinh, sinh viên, giảng viên đi học tập, nghiên cứu, thỉnh giảng ở các nước nước ngoài trong các lĩnh vực, ngành trọng điểm.
3. Ủy ban nhân dân Thành phố có thẩm quyền:
a) Quy định việc thực hiện liên kết giáo dục giữa cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông công lập của Thành phố với các cơ sở giáo dục nước ngoài;
b) Điều chỉnh chương trình giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, bảo đảm yêu cầu của chương trình khung quốc gia;
c) Ban hành chương trình giáo dục phổ thông ở các trường chuyên, cơ sở giáo dục chất lượng cao, cơ sở thực hiện liên kết giáo dục phù hợp với mục tiêu phát triển giáo dục của Thủ đô, tiệm cận với trình độ khu vực, quốc tế và bảo đảm yêu cầu của chương trình khung quốc gia;
d) Quy định tiêu chí, điều kiện về cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, chương trình giảng dạy, phương pháp giảng dạy và dịch vụ giáo dục chất lượng cao;
đ) Quy định trình tự, thủ tục thành lập, hoạt động đối với cơ sở đào tạo quy định tại khoản 4 Điều này.
4. Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố có thẩm quyền:
a) Quyết định thành lập trường đại học công lập do Thành phố quản lý, cho phép thành lập trường đại học tư thục, trường đại học có vốn đầu tư nước ngoài, liên kết đào tạo với cơ sở nước ngoài;
b) Quyết định thành lập trường cao đẳng công lập do Thành phố quản lý; cho phép thành lập trường cao đẳng tư thục, trường cao đẳng có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn Thành phố.
Điều 20. Phát triển hệ thống y tế, an sinh xã hội
1. Hội đồng nhân dân Thành phố có thẩm quyền:
a) Ban hành giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh áp dụng cho cơ sở y tế do Thành phố quản lý; quy định việc hỗ trợ từ ngân sách để bảo đảm chi trả mức chênh lệch của giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh của Thành phố với giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh do Trung ương ban hành;
b) Quy định trách nhiệm của cơ sở y tế trên địa bàn Thành phố trong việc tham gia hoạt động y tế dự phòng, y tế cơ sở của Thủ đô, hệ thống cấp cứu ngoại viện, vận chuyển y tế;
c) Quy định các chính sách xã hội, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội của Thủ đô khác hoặc ngoài quy định của Trung ương theo hướng mở rộng đối tượng, nâng mức thụ hưởng bảo đảm hệ thống an sinh xã hội đa dạng, toàn diện, hiện đại, bền vững, bao phủ toàn dân, ưu tiên cho các đối tượng yếu thế, người dễ bị tổn thương, người cần hỗ trợ khẩn cấp trên địa bàn.
2. Ủy ban nhân dân Thành phố có thẩm quyền:
a) Đầu tư, thành lập các khu phức hợp y tế, cơ sở y tế, cơ sở kiểm nghiệm, kiểm định, kiểm chuẩn, kiểm soát bệnh tật của vùng Thủ đô;
b) Quy định về việc phê duyệt kỹ thuật mới, kỹ thuật đặc biệt, phương pháp mới, thừa nhận giấy phép hành nghề của người nước ngoài, thành lập mới, cấp giấy phép hoạt động bệnh viện, cơ sở y tế trên địa bàn Thành phố.
Chương V
PHÁT TRIỂN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ, ĐỔI MỚI SÁNG TẠO VÀ CHUYỂN ĐỔI SỐ
Điều 21. Chính sách chung phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
1. Ưu tiên thí điểm cơ chế, chính sách, thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, làm cơ sở để tổng kết thực tiễn và nhân rộng các mô hình hiệu quả trong phạm vi cả nước; xây dựng cơ chế, chính sách để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô dựa vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
2. Ngân sách nhà nước chi cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được sử dụng theo nguyên tắc đa phương thức, linh hoạt để bảo đảm tính kịp thời, hiệu quả, minh bạch, dựa trên kết quả đầu ra; có cơ chế chấp nhận rủi ro và miễn trừ trách nhiệm đối với rủi ro trong hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trên địa bàn Thành phố.
3. Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải được tích hợp phù hợp vào chương trình, kế hoạch, đề án, dự án phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố. Xác định nhân tài là yếu tố then chốt, được ưu tiên thu hút và trọng dụng bằng các chính sách vượt trội.
4. Xây dựng hạ tầng số hiện đại, đồng bộ, an toàn, có tầm nhìn tổng thể và dài hạn; lấy an ninh mạng, an toàn dữ liệu làm nền tảng xuyên suốt.
5. Hội đồng nhân dân Thành phố có trách nhiệm quy định cơ chế, chính sách để cụ thể Điều này phù hợp với điều kiện phát triển của Thủ đô, bảo đảm phù hợp với Hiến pháp và không trái các nguyên tắc phân quyền của Luật này.
Điều 22. Chính sách đầu tư, khuyến khích phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
1. Việc sử dụng ngân sách Thành phố đầu tư, hỗ trợ, tài trợ để thực hiện hoạt động, nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trên địa bàn Thủ đô được thực hiện theo nguyên tắc sau đây:
a) Thực hiện chi theo cơ chế quỹ;
b) Khoán chi toàn diện; tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số có sử dụng vốn ngân sách Thành phố được chủ động lựa chọn đơn vị cung cấp dịch vụ, hàng hóa để thực hiện nhiệm vụ;
c) Chi theo nhiệm vụ, chương trình; cấp phát ngân sách, quyết toán theo tiến độ, theo kết quả thực hiện;
d) Chuyển giao không bồi hoàn tài sản, kết quả, sản phẩm hình thành từ nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách Thành phố;
đ) Hội đồng nhân dân quy định chi tiết Khoản này.
2. Hội đồng nhân dân Thành phố quy định việc thành lập, cơ chế tổ chức, quản lý, hoạt động, sử dụng Quỹ phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo của Thành phố.
Quỹ thực hiện chức năng tài trợ, đặt hàng thực hiện chương trình, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; hỗ trợ hoạt động nâng cao năng lực khoa học và công nghệ Thủ đô; hỗ trợ lãi suất vay, hỗ trợ kinh phí để ứng dụng công nghệ, chuyển giao công nghệ, đổi mới công nghệ, đổi mới sáng tạo; hỗ trợ hoạt động phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, thúc đẩy văn hóa đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo và các hoạt động khác theo quy định của Hội đồng nhân dân Thành phố.
3. Hội đồng nhân dân Thành phố quy định việc thành lập, cơ chế tổ chức, hoạt động, quản lý Quỹ đầu tư mạo hiểm có sử dụng ngân sách nhà nước của Thành phố để đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo, hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo.
Quỹ đầu tư mạo hiểm được bố trí vốn điều lệ từ ngân sách Thành phố, được nhận tài trợ, huy động các nguồn tài chính hợp pháp khác. Việc quản lý, sử dụng các nguồn vốn của Quỹ đầu tư mạo hiểm được thực hiện theo nguyên tắc thị trường, chấp nhận khả năng rủi ro, bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả.
4. Chính sách khuyến khích, ưu đãi, hỗ trợ:
a) Thu nhập của cá nhân từ các nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số có sử dụng ngân sách Thành phố là thu nhập không chịu thuế thu nhập cá nhân;
b) Thu nhập từ việc tham gia các hoạt động tư vấn cho Thành phố về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là thu nhập không chịu thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp;
c) Doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố được trích tối đa 25% (hệ số 1,1, so với quy định chung) thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp để lập quỹ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nghiên cứu phát triển. Doanh nghiệp được sử dụng quỹ để tự triển khai hoặc đặt hàng nghiên cứu phát triển bên ngoài theo cơ chế khoán sản phẩm.
Hội đồng nhân dân Thành phố quyết định điều chỉnh tỷ lệ trích lập quỹ quy định tại điểm này theo lộ trình phát triển của Thủ đô.
d) Doanh nghiệp hoạt động đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, công ty quản lý quỹ đầu tư mạo hiểm, tổ chức trung gian hỗ trợ khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo trên địa bàn Thành phố được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời hạn 05 năm kể từ thời điểm phát sinh thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp;
đ) Doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn Thành phố được tính vào chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp đối với hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đầu tư vào các doanh nghiệp công nghệ khởi nghiệp sáng tạo bằng 200% chi phí thực tế của hoạt động này.
Hội đồng nhân dân Thành phố quy định chi tiết nội dung chi và tỷ lệ khấu trừ thuế quy định ở khoản này nhưng không thấp hơn 200%, phù hợp với yêu cầu phát triển của Thủ đô;
e) Hội đồng nhân dân Thành phố quy định biện pháp hỗ trợ phát triển hạ tầng, các tổ chức khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trên địa bàn Thành phố; hỗ trợ nhận chuyển giao công nghệ; hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo, đổi mới sáng tạo, thương mại hóa sản phẩm, kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ.
Điều 23. Thử nghiệm có kiểm soát
1. Hội đồng nhân dân Thành phố có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Quy định tiêu chí, điều kiện lựa chọn và trình tự, thủ tục cho phép, điều chỉnh, gia hạn và chấm dứt việc thử nghiệm có kiểm soát; mẫu quỹ chế thử nghiệm
b) Quy định cơ chế hướng dẫn, kiểm soát quá trình thử nghiệm; cơ chế bảo vệ người tham gia thử nghiệm; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình thử nghiệm có kiểm soát;
c) Quyết định phạm vi miễn áp dụng các quy định của pháp luật đối với dự án thử nghiệm cụ thể theo đề nghị của Ủy ban nhân dân Thành phố.
d) Quy định chính sách khuyến khích, hỗ trợ, tài trợ cho hoạt động thử nghiệm có kiểm soát; nguồn kinh phí bảo đảm cho hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia vào phê duyệt, hướng dẫn, kiểm soát quá trình thử nghiệm; việc sử dụng cơ sở dữ liệu của các cơ quan nhà nước, cơ sở hạ tầng, tài sản công để hỗ trợ thử nghiệm có kiểm soát.
đ) Quy định chính sách ưu tiên mua sắm, đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước và hỗ trợ phát triển thị trường đối với dự án thử nghiệm có kiểm soát được đánh giá đạt hiệu quả.
2. Ủy ban nhân dân Thành phố có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Quyết định, công bố danh mục lĩnh vực ưu tiên, khuyến khích đăng ký thực hiện thử nghiệm có kiểm soát;
b) Cho phép thử nghiệm và ban hành quy chế thử nghiệm riêng đối với từng dự án thử nghiệm; quyết định điều chỉnh phạm vi thử nghiệm, gia hạn thử nghiệm, chấm dứt thử nghiệm;
c) Tổ chức việc hướng dẫn và kiểm soát quá trình thử nghiệm;
d) Báo cáo Hội đồng nhân dân Thành phố cho phép miễn áp dụng một số quy định của pháp luật trước khi cho phép thử nghiệm;
đ) Hằng năm, báo cáo Hội đồng nhân dân Thành phố về tình hình và kết quả thực hiện các nội dung thử nghiệm có kiểm soát do mình cho phép; kiến nghị cơ quan có thẩm quyền giải pháp hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực, nội dung có liên quan.
Điều 24. Phát triển khu công nghệ cao
1. Khu công nghệ cao tại Thành phố gồm các loại hình: khu công nghệ cao, khu công nghệ thông tin tập trung, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
Hội đồng nhân dân Thành phố quy định về điều kiện thành lập, điều chỉnh, đầu tư phát triển khu công nghệ cao; cơ chế quản lý, chức năng, nhiệm vụ của khu công nghệ cao; chính sách ưu đãi, hỗ trợ, phát triển các khu công nghệ cao trên địa bàn Thành phố.
2. Khu công nghệ cao Hòa Lạc là khu vực nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm, ứng dụng công nghệ cao, đào tạo nhân lực công nghệ cao, sản xuất sản phẩm công nghệ cao và đổi mới sáng tạo trọng điểm của đất nước và Thủ đô; là nơi thử nghiệm, thí điểm về cơ chế, chính sách cho việc quản lý, phát triển công nghệ cao và các khu công nghệ cao trong cả nước.
Việc phát triển Khu công nghệ cao Hòa Lạc thực hiện theo quy định của pháp luật và quy định sau đây:
a) Ngân sách Trung ương và Thành phố bố trí vốn để đầu tư xây dựng và phát triển Khu công nghệ cao Hòa Lạc, trong đó ưu tiên đầu tư hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng số, hạ tầng công nghệ, hạ tầng xã hội trong Khu công nghệ cao Hòa Lạc; di dời các cơ sở nghiên cứu, đào tạo công nghệ hiện có tại đô thị trung tâm về Khu công nghệ cao Hòa Lạc.
b) Đối với khu chức năng cần đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật, Thành phố đầu tư thông qua Ban Quản lý các khu công nghệ cao và khu công nghiệp Thành phố hoặc cho nhà đầu tư xây dựng, kinh doanh kết cấu hạ tầng thuê đất đối với diện tích đất xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và đất sử dụng vào mục đích công cộng theo quy hoạch phân khu xây dựng đã được phê duyệt.
Nhà nước cho thuê đất không đấu giá quyền sử dụng đất đối với dự án thực hiện các loại hình hoạt động công nghệ cao có sử dụng đất;
c) Phát triển nhà ở, nhà công vụ, nhà lưu trú, hạ tầng xã hội trong Khu công nghệ cao;
d) Việc đầu tư, thành lập trung tâm nghiên cứu phát triển (R&D), phòng thí nghiệm của các nhà đầu tư chiến lược được áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt theo quy định tại khoản 4 Điều 31 của Luật này.
3. Ban Quản lý các khu công nghệ cao và khu công nghiệp Thành phố là tổ chức hành chính và cơ quan phát triển thuộc Ủy ban nhân dân Thành phố có chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Ủy ban nhân dân Thành phố.
Chương VI
NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN THỦ ĐÔ
Điều 25. Sử dụng nguồn tài chính, ngân sách
1. Ngân sách trung ương bổ sung có mục tiêu cho ngân sách Thành phố toàn bộ số tăng thu ngân sách trung ương từ các khoản thu phân chia giữa ngân sách trung ương và ngân sách Thành phố so với dự toán Thủ tướng Chính phủ giao sau khi đã thực hiện thưởng vượt dự toán các khoản thu quy định tại Luật Ngân sách nhà nước và số tăng thu từ các khoản thu ngân sách trung ương hưởng 100% trên địa bàn so với dự toán Thủ tướng Chính phủ giao, gồm các khoản sau đây:
a) Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế nhập khẩu bổ sung;
b) Thuế tiêu thụ đặc biệt thu từ hàng hóa nhập khẩu;
c) Phí thu từ các hoạt động dịch vụ do các cơ quan nhà nước trung ương thực hiện. Các khoản phí thu từ hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức được cơ quan có thẩm quyền giao cung cấp dịch vụ công nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật;
d) Lệ phí do các cơ quan nhà nước trung ương thu, trừ lệ phí trước bạ theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước;
đ) Tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính, phạt khác theo quy định của pháp luật do các cơ quan nhà nước trung ương thực hiện;
e) Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật mà chưa được quy định trong Luật Ngân sách nhà nước; trừ các khoản thu không giao cho Thành phố quản lý thu, không phát sinh trên địa bàn Thành phố mà chỉ hạch toán nộp ở Thành phố; các khoản thu đã được cấp có thẩm quyền cho phép sử dụng cho nhiệm vụ chi cụ thể; các khoản hạch toán ghi thu, ghi chi và các khoản thu được để lại đơn vị chi quản lý qua ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.
Việc xác định số bổ sung có mục tiêu trên cơ sở tổng các khoản thu, không tính riêng từng khoản thu. Hằng năm, kết thúc năm ngân sách, Bộ Tài chính xác định số thưởng và bổ sung có mục tiêu cho thành phố Hà Nội, báo cáo cấp có thẩm quyền quyết định trong quý I năm liền kề.
2. Dự toán chi ngân sách hằng năm Quốc hội quyết định cho thành phố Hà Nội được xác định trên cơ sở định mức phân bổ chi ngân sách bằng 1,5 lần của thành phố trực thuộc trung ương có định mức cao nhất.
3. Hội đồng nhân dân Thành phố quyết định cụ thể đề án vay trong nước bao gồm trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu dự án, vay từ các tổ chức tín dụng, nguồn vay của Chính phủ vay về cho vay lại mà không phụ thuộc vào tổng mức vay và mức bội chi ngân sách Thành phố đã được Quốc hội quyết định, Thủ tướng Chính phủ giao hằng năm.
Việc vay vốn từ các tổ chức tín dụng theo hình thức tín chấp hoặc bảo đảm bằng giá trị quyền sử dụng đất dự kiến hình thành theo quy hoạch. Nguồn thu từ việc đấu giá, khai thác quỹ đất sau khi có hạ tầng được ưu tiên hoàn trả cho các khoản vay này.
Ủy ban nhân dân Thành phố chịu trách nhiệm thực hiện đầy đủ, đúng hạn các nghĩa vụ liên quan đến khoản vay.
4. Ngân sách Thành phố được hưởng và không dùng để xác định tỷ lệ phần trăm đối với các khoản thu phân chia giữa ngân sách trung ương và ngân sách Thành phố đối với các khoản thu sau đây:
a) Toàn bộ phần ngân sách trung ương được hưởng theo tỷ lệ phân chia các khoản thu tiền sử dụng đất, tiền cho thuê đất thuộc thẩm quyền quản lý của Thành phố;
b) Toàn bộ khoản thu từ giao dịch tín chỉ các-bon, kết quả giảm phát thải khí nhà kính từ các chương trình, dự án theo cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ các-bon sử dụng ngân sách Thành phố;
c) Toàn bộ số thu từ phí, lệ phí do Hội đồng nhân dân Thành phố ban hành ngoài Danh mục phí, lệ phí ban hành kèm theo Luật Phí và lệ phí;
5. Hội đồng nhân dân Thành phố quyết định số lượng, tên gọi các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách; quy định về việc thành lập, mô hình tổ chức, hoạt động, quản lý, vận hành, cơ chế tài chính, tín dụng đối với các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách.
6. Hội đồng nhân dân Thành phố quyết định:
a) Cơ cấu chi ngân sách địa phương phù hợp với các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương;
b) Việc sử dụng các nguồn kết dư ngân sách, quỹ ngân sách của Thành phố;
c) Nội dung chi từ nguồn tăng thu ngân sách cấp Thành phố, nguồn thưởng vượt dự toán các khoản thu phân chia giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương và nguồn bổ sung có mục tiêu từ nguồn tăng thu ngân sách trung ương quy định tại khoản 1 Điều này, ngoài các nội dung đã được quy định tại Luật Ngân sách nhà nước;
d) Thành lập, quản lý và sử dụng quỹ thưởng của Thủ đô. Nguồn tài chính của quỹ được hình thành từ tối thiểu 50% số tăng thu thuế, phí thực hiện so với dự toán của ngân sách cấp Thành phố, ngân sách cấp xã còn lại sau khi đã thực hiện cơ chế tạo nguồn cải cách tiền lương hằng năm và các nguồn tài chính hợp pháp khác.
7. Hội đồng nhân dân Thành phố quyết định sử dụng ngân sách Thành phố để hỗ trợ các cơ quan trung ương, các địa phương khác trong nước hoặc hỗ trợ quốc gia khác.
Hội đồng nhân dân cấp xã được sử dụng ngân sách cấp mình để hỗ trợ đơn vị hành chính cấp xã khác của Thành phố.
8. Hội đồng nhân dân Thành phố quy định các cơ chế chính sách sau đây:
a) Chế độ tự chủ về kinh phí quản lý hành chính đối với cơ quan nhà nước;
b) Cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý của Thành phố;
c) Việc bảo lãnh tín dụng cho các đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư để huy động vốn từ các tổ chức tín dụng trong nước để đầu tư trang thiết bị công nghệ cao.
Hội đồng nhân dân Thành phố quy định chi tiết đối tượng, điều kiện, trình tự, thủ tục bảo lãnh.
9. Hội đồng nhân dân Thành phố quyết định sử dụng ngân sách Thành phố để thực hiện dự án đầu tư, công trình, dự án ngoài địa bàn Thành phố.
10. Hội đồng nhân dân Thành phố quy định chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi đối với các nhiệm vụ chi sử dụng ngân sách Thành phố cao hơn mức quy định hoặc chưa được quy định trong văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên.
Điều 26. Thẩm quyền về đầu tư
PA 1: 1. Các dự án đầu tư công, dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư (sau đây gọi là dự án PPP) trên địa bàn Thành phố sử dụng vốn ngân sách địa phương, nguồn vốn hợp pháp khác của địa phương, bao gồm cả vốn bổ sung có mục tiêu từ ngân sách trung ương, do cơ quan, người có thẩm quyền của Thành phố Hà Nội phê duyệt về chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư theo quy định của Hội đồng nhân dân Thành phố, trừ dự án đầu tư nhà máy điện hạt nhân.
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố chấp thuận chủ trương đầu tư đối với dự án đầu tư thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư trên địa bàn Thành phố, trừ các dự án sau đây:
a) Dự án đầu tư nhà máy điện hạt nhân;
b) Dự án đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ viễn thông có hạ tầng mạng, xuất bản, báo chí;
c) Dự án đầu tư có kinh doanh đặt cược, ca-si-nô (casino), kinh doanh trò chơi điện tử có thưởng dành cho người nước ngoài;
d) Dự án thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh có mức độ tuyệt mật.
3. Hội đồng nhân dân Thành phố ban hành:
a) Quy định về tiêu chí phân loại dự án, thẩm quyền phê duyệt dự án đầu tư, quyết định dự án đầu tư, lựa chọn nhà đầu tư, nhà thầu, việc đánh giá, giám sát đầu tư, tiêu chí, điều kiện, trình tự, thủ tục thực hiện dự án quy định tại khoản 1 Điều này;
b) Quy định về đầu tư công khẩn cấp, lệnh xây dựng khẩn cấp trên địa bàn Thành phố;
c) Quy định hồ sơ, điều kiện, tiêu chí, trình tự, thủ tục lập, thẩm định, chấp thuận chủ trương đầu tư, chấp thuận điều chỉnh chủ trương đầu tư, hình thức lựa chọn nhà đầu tư dự án quy định tại khoản 2 Điều này.
4. Đối với dự án đầu tư theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này cần áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt khác với quy định của luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng nhân dân Thành phố trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho phép thực hiện cơ chế, chính sách đặc biệt khác với quy định của luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
PA2: 1. Hội đồng nhân dân Thành phố quyết định chủ trương đầu tư đối với các dự án đầu tư công, dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư (sau đây gọi là dự án PPP) thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật về đầu tư công, pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư và các dự án đầu tư công, dự án PPP quy định tại điểm a và b khoản 6 Điều 3 của Luật này.
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố chấp thuận chủ trương đầu tư đối với dự án đầu tư thuộc thẩm quyền theo quy định của Luật Đầu tư và dự án đầu tư thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư quy định tại điểm a và điểm c khoản 6 Điều 3 của Luật này, trừ các dự án sau đây:
a) Dự án đầu tư nhà máy điện hạt nhân;
b) Dự án đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ viễn thông có hạ tầng mạng, xuất bản, báo chí;
c) Dự án đầu tư có kinh doanh đặt cược, ca-si-nô (casino), kinh doanh trò chơi điện tử có thưởng dành cho người nước ngoài.
3. Hội đồng nhân dân Thành phố quy định nội dung, hồ sơ, điều kiện, tiêu chí, trình tự, thủ tục lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư, chấp thuận chủ trương đầu tư, điều chỉnh chủ trương đầu tư, chấp thuận điều chỉnh chủ trương đầu tư các dự án quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
4. Đối với dự án đầu tư theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này cần áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt khác với quy định của luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, trên cơ sở được sự đồng ý của cấp có thẩm quyền, Hội đồng nhân dân Thành phố trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho phép thực hiện cơ chế, chính sách đặc biệt khác với quy định của luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
5. Dự án đầu tư mới, cải tạo công trình để xử lý điểm nghẽn, cấp bách về ùn tắc giao thông, úng ngập, ô nhiễm môi trường, trật tự đô thị sử dụng vốn ngân sách cấp Thành phố và các nguồn vốn hợp pháp khác thì được thực hiện đầu tư, xây dựng theo quy định về đầu tư công khẩn cấp của pháp luật về đầu tư công, lệnh xây dựng khẩn cấp của pháp luật về xây dựng.
6. Việc lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án, nhà thầu thực hiện gói thầu thuộc dự án quy định tại khoản 6 Điều 3 của Luật này, dự án quan trọng khác theo quy định của Hội đồng nhân dân Thành phố được áp dụng hình thức lựa chọn nhà đầu tư, nhà thầu trong trường hợp đặc biệt.
Hội đồng nhân dân Thành phố quy định nội dung, hồ sơ, điều kiện, tiêu chí, trình tự, thủ tục thực hiện lựa chọn nhà đầu tư, nhà thầu quy định tại khoản này.
Điều 27. Tài sản công, tài sản kết cấu hạ tầng do Thành phố đầu tư, quản lý
Hội đồng nhân dân Thành phố quy định cơ chế, chính sách quản lý, sử dụng và khai thác tài sản công, tài sản kết cấu hạ tầng do Nhà nước đầu tư, quản lý sau đây:
1. Sử dụng, khai thác tài sản công tại đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý của Thành phố vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết; nhượng quyền trong quản lý, vận hành, khai thác tài sản kết cấu hạ tầng do Nhà nước đầu tư, quản lý thuộc phạm vi quản lý của Thành phố.
2. Cơ chế thuê công trình, tài sản; mua sắm công trình, tài sản để hình thành tài sản công phục vụ mục tiêu an sinh xã hội, cung cấp dịch vụ công.
Điều 28. Quản lý, bảo vệ, sử dụng tài nguyên
1. Hội đồng nhân dân Thành phố quy định cơ chế, chính sách phát triển, khai thác, sử dụng đất đai trên địa bàn Thành phố sau đây:
a) Về trường hợp thu hồi đất; việc giao đất, cho thuê đất, miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thời hạn sử dụng đất;
b) Về phát triển quỹ đất bao gồm chỉ tiêu sử dụng đất, tập trung, tích tụ đất đai, sử dụng đất để chỉnh trang, tái thiết đô thị và nông thôn, sử dụng đất đa mục đích, góp quyền sử dụng đất, điều chỉnh lại đất đai; việc quản lý và khai thác quỹ đất theo quy hoạch của Thủ đô;
c) Trên bãi sông được phép tồn tại một số khu vực dân cư hiện hữu và được phép xây dựng mới công trình, nhà ở với tỷ lệ thích hợp theo quy hoạch phòng, chống lũ của tuyến sông có đê và quy hoạch khác có liên quan; các khu vực bãi sông, bãi nổi còn lại được phép xây dựng các công trình dành cho không gian công cộng, công trình phục vụ mục đích công cộng nhưng không tôn cao bãi sông, bãi nổi để đảm bảo yêu cầu không làm cản trở dòng chảy;
d) Quy định hình thức sử dụng, khai thác quỹ đất nông nghiệp tại bãi sông, bãi nổi ở tuyến sông có đê để sản xuất nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp kết hợp du lịch, giáo dục trải nghiệm bảo đảm nguyên tắc việc xây dựng trên đất nông nghiệp tại bãi sông, bãi nổi ở tuyến sông có đê phải phù hợp với quy hoạch phòng, chống lũ của tuyến sông có đê, quy hoạch đê điều, quy hoạch xây dựng, quy hoạch khác có liên quan;
2. Hội đồng nhân dân quy định về cơ chế, chính sách quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên rừng sau đây:
a) Thành phố Hà Nội thực hiện quản lý, bảo vệ, sử dụng và phát triển bền vững toàn bộ diện tích rừng trên địa bàn, bảo đảm tính thống nhất, liên thông của hệ sinh thái, gắn kết chặt chẽ với không gian sinh thái liên vùng;
b) Quy định về phát triển diện tích rừng trong đô thị, mở rộng không gian xanh phù hợp với quy hoạch của Thủ đô đối với quỹ đất do cơ quan, tổ chức của Nhà nước quản lý nhưng chưa giao, chưa cho thuê, đất chưa sử dụng.
Điều 29. Thu hút, trọng dụng và phát triển nguồn nhân lực
1. Hội đồng nhân dân Thành phố quy định chính sách thu hút, trọng dụng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao làm việc tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước, thực hiện nhiệm vụ phục vụ xây dựng, phát triển Thủ đô.
2. Hội đồng nhân dân Thành phố quyết định các chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của Thủ đô:
a) Quy định chính sách về thu nhập, nhà ở, cư trú, nhập cảnh và đãi ngộ khác để thu hút, trọng dụng và đãi ngộ chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý, tổng công trình sư, kiến trúc sư trưởng, người có chuyên môn, trình độ cao trong các lĩnh vực; phát triển nguồn nhân lực số, nhân lực chất lượng cao;
b) Sử dụng ngân sách Thành phố để hỗ trợ, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị của cơ sở đào tạo trọng điểm trên địa bàn Thành phố;
c) Sử dụng ngân sách Thành phố để hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ, kỹ năng nghề tại các cơ sở đào tạo của nước ngoài cho cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc Thành phố quản lý, học sinh, sinh viên của các cơ sở giáo dục, đào tạo trên địa bàn Thành phố;
d) Đầu tư kinh phí cho công chức, viên chức tự đào tạo nâng cao theo kết quả đầu ra;
đ) Đầu tư, hỗ trợ hình thành các trung tâm quốc gia, trung tâm vùng về đào tạo và thực hành nghề chất lượng cao trên địa bàn Thành phố; hỗ trợ học phí cho học viên học nghề tại các cơ sở đào tạo nghề chất lượng cao của Thành phố.
Điều 30. Thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, kinh doanh
1. Hội đồng nhân dân Thành phố quy định danh mục ngành, nghề ưu tiên thu hút nhà đầu tư chiến lược; tiêu chí, điều kiện, trình tự, thủ tục phê duyệt dự án, lựa chọn nhà đầu tư chiến lược của Thủ đô.
Trong quá trình thực hiện, nhà đầu tư chiến lược không đáp ứng điều kiện về vốn, tiến độ giải ngân, các điều kiện khác đối với nhà đầu tư chiến lược và không thực hiện đúng cam kết với Thành phố thì không được hưởng ưu đãi quy định tại Luật này. Nhà đầu tư chiến lược, cá nhân hoặc tổ chức kinh tế thực hiện dự án đầu tư có trách nhiệm liên đới bồi thường cho Thành phố các khoản đã được nhận ưu đãi hơn so với nhà đầu tư khác, đồng thời phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật về các hậu quả phát sinh do không thực hiện đúng cam kết của mình.
2. Hội đồng nhân dân Thành phố quy định danh mục dự án được hưởng ưu đãi, hỗ trợ đầu tư; quy định chính sách, biện pháp, tiêu chí, điều kiện, trình tự, thủ tục ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, mức hỗ trợ, ưu đãi đầu tư đối với từng loại dự án, bao gồm các loại ưu đãi, hỗ trợ sau đây:
a) Miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước;
b) Mức thuế suất; miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân; hỗ trợ thuế nhập khẩu;
c) Hỗ trợ lãi suất vay vốn;
d) Các ưu đãi, hỗ trợ khác.
3. Ủy ban nhân dân Thành phố quy định các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân sau:
a) Hỗ trợ thuế, phí, lệ phí đối với doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân;
b) Biện pháp ưu đãi, hỗ trợ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp do thanh niên, phụ nữ, đồng bào dân tộc thiểu số, người khuyết tật làm chủ trong lựa chọn nhà thầu đối với gói thầu xây lắp, mua sắm hàng hóa, gói thầu hỗn hợp cung cấp hàng hóa và xây lắp sử dụng ngân sách của Thành phố có giá gói thầu có giá trị nhỏ.
Điều 31. Phát triển khu thương mại tự do của Thủ đô và loại hình kinh tế mới
1. Khu thương mại tự do tại Thủ đô do Ủy ban nhân dân Thành phố thành lập sau khi được Hội đồng nhân dân Thành phố phê duyệt.
2. Cơ chế, chính sách về tổ chức, hoạt động của khu thương mại tự do thực hiện theo quy định của Thành phố.
3. Loại hình kinh tế ban đêm, kinh tế bạc, kinh tế không gian tầm thấp và các loại hình kinh tế mới khác của Thủ đô do Hội đồng nhân dân Thành phố quy định về phạm vi, quy chuẩn, tiêu chuẩn, điều kiện, ngành nghề, lĩnh vực hoạt động, biện pháp hỗ trợ phát triển, cơ chế quản lý, cấp phép, kiểm tra, giám sát, biện pháp bảo đảm an ninh trật tự, xử lý vi phạm và các vấn đề phát sinh khác.
Chương VII
VÙNG THỦ ĐÔ
Điều 32. Mục tiêu, nguyên tắc liên kết, phát triển vùng
Nhà nước ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầng kết nối Thủ đô và các địa phương trong vùng Thủ đô.
2. Việc quy hoạch, đầu tư phát triển các dự án của các tỉnh thuộc vùng cần bảo đảm yêu cầu sau đây:
a) Liên kết về hạ tầng giao thông, hạ tầng chung của vùng;
b) Phối hợp khai thác quản lý môi trường, nguồn nước; xử lý ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước của Thủ đô và vùng Thủ đô;
c) Phát triển chuỗi sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ trong lĩnh vực: công nghiệp, nông nghiệp, logistic, khoa học và công nghệ, giáo dục đào tạo, y tế, lao động, văn hóa, du lịch.
3. Việc liên kết, phát triển vùng giữa thành phố Hà Nội và các địa phương thuộc vùng Thủ đô phải bảo đảm nguyên tắc sau đây:
a) Tuân thủ Hiến pháp, Luật Thủ đô và các luật, nghị quyết của Quốc hội có quy định liên quan đến cơ chế, chính sách phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh;
b) Đồng thuận, công khai, minh bạch;
c) Thực hiện phối hợp, liên kết phát triển thông qua kế hoạch, chương trình, dự án liên kết, phát triển vùng được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
d) Theo cơ chế điều phối phát triển vùng Thủ đô do Ủy ban nhân dân Thành phố, các tỉnh trong vùng thống nhất; bảo đảm thống nhất trong tổ chức không gian phát triển, đầu tư hạ tầng kỹ thuật chung và thực hiện liên kết vùng giữa Thủ đô Hà Nội và các địa phương liên quan.
Điều 33. Đầu tư, quản lý dự án liên kết, phát triển vùng
2. Việc đề xuất, thực hiện chương trình, dự án liên kết, phát triển vùng được thực hiện như sau:
a) Ủy ban nhân dân Thành phố, các tỉnh có liên quan báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét, đồng thuận về việc thực hiện chương trình, dự án liên kết, phát triển vùng.
b) Ủy ban nhân dân Thành phố, các tỉnh trong vùng thống nhất giao một Ủy ban nhân dân cấp tỉnh làm cơ quan chủ quản thực hiện chương trình, dự án; cơ quan chủ quản có trách nhiệm báo cáo Thủ tướng sau khi quyết định.
c) Việc lập, thẩm định, phê duyệt, thực hiện chương trình, dự án liên kết, phát triển vùng Thủ đô được thực hiện theo quy định của Luật này.
3. Ngân sách trung ương và ngân sách địa phương ưu tiên bố trí để triển khai thực hiện chương trình, dự án liên kết, phát triển vùng có sử dụng ngân sách nhà nước, trong đó:
a) Ngân sách trung ương ưu tiên bố trí toàn bộ hoặc một phần cho chương trình, dự án liên kết, phát triển vùng;
b) Ưu tiên bố trí từ nguồn tăng thu ngân sách trung ương cho các tỉnh, thành phố trong vùng Thủ đô để bảo đảm đầu tư các chương trình, dự án liên kết, phát triển vùng trước các chương trình, nhiệm vụ, dự án khác.
c) Trường hợp có nguồn vốn ngân sách trung ương bố trí cho chương trình, dự án liên kết, phát triển vùng do địa phương làm chủ đầu tư thì cơ quan có thẩm quyền giao bổ sung có mục tiêu cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được giao làm cơ quan chủ quản thực hiện chương trình, dự án để triển khai thực hiện.
d) Thủ tướng Chính phủ quyết định danh mục chương trình, dự án liên kết, phát triển vùng được hỗ trợ từ ngân sách trung ương quy định tại Điều này theo đề nghị của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội.
4. Bố trí vốn hợp tác đầu tư, hỗ trợ đầu tư:
a) Thành phố Hà Nội và các tỉnh trong vùng được phép sử dụng ngân sách để hỗ trợ các địa phương trong vùng hoặc đầu tư trực tiếp vào các công trình, dự án trên địa bàn các tỉnh lân cận nhằm giải quyết các vấn đề về hạ tầng giao thông, môi trường, cấp nước sạch, thoát nước và công trình khác để phục vụ lợi ích chung của Thủ đô và Vùng;
b) Việc hỗ trợ quy định tại điểm a khoản này được hạch toán vào chi ngân sách của Thành phố Hà Nội và các tỉnh, không xác định là khoản bổ sung có mục tiêu cho ngân sách địa phương nhận hỗ trợ;
5. Thành lập Quỹ Phát triển vùng Thủ đô:
a) Quỹ hoạt động theo mô hình quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách; thực hiện theo chiến lược, kế hoạch, danh mục đầu tư do Hội đồng Điều phối phát triển vùng quyết định;
b) Nguồn tài chính của Quỹ hình thành từ đóng góp ngân sách của các tỉnh, thành phố trong vùng, huy động vốn xã hội, các nguồn hỗ trợ, tài trợ và nguồn hợp pháp khác;
c) Quỹ được sử dụng để đầu tư, phát triển các dự án liên kết vùng, ưu tiên các dự án về giao thông, hạ tầng quan trọng khác, dự án xử lý ô nhiễm môi trường, khai thác khoáng sản; xử lý sự cố, thiên tai, dịch bệnh có tính chất vùng.
6. Chương trình, dự án liên kết, phát triển vùng được đầu tư toàn bộ từ nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước được hưởng ưu đãi theo quy định tại khoản 2 Điều … của Luật này.
a) Tham gia đóng góp nguồn kinh phí bảo trì, sửa chữa, vận hành đối với các công trình hạ tầng chung theo mức độ hưởng lợi và cường độ sử dụng;
b) Chia sẻ chi phí môi trường, bao gồm chi phí kiểm soát, giảm thiểu và khắc phục ô nhiễm môi trường, đặc biệt là ô nhiễm không khí, phát sinh đối với Thủ đô Hà Nội do hoạt động sản xuất, giao thông, logistics, xây dựng và dịch vụ liên vùng;
c) Tuân thủ phân công chức năng phát triển vùng và định hướng tổ chức không gian vùng Thủ đô.
Chương VIII
GIÁM SÁT, KIỂM TRA VÀ TRÁCH NHIỆM GIẢI TRÌNH
Điều 34. Trách nhiệm của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội
1. Quốc hội quyết định ban hành, sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ các cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thủ đô thuộc thẩm quyền theo đề nghị của Chính phủ, Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội.
2. Quốc hội quyết định việc dừng toàn bộ hoặc một phần việc thực hiện các cơ chế, chính sách quy định tại Luật này trong trường hợp cần thiết để:
a) Bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc;
b) Bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
c) Ứng phó với tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh, khủng hoảng nghiêm trọng.
3. Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với việc thi hành Luật Thủ đô; định kỳ xem xét báo cáo của Chính phủ về tình hình thực hiện Luật Thủ đô, việc phân quyền, phân cấp cho chính quyền Thủ đô và hiệu quả thực hiện các cơ chế, chính sách đặc thù.
4. Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm:
a) Giám sát việc thi hành Luật Thủ đô tại địa phương;
b) Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình thi hành Luật;
c) Tham gia hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển Thủ đô, vùng Thủ đô.
Điều 35. Trách nhiệm của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ
1. Tổ chức theo dõi, kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thi hành Luật Thủ đô; bảo đảm việc phân quyền, phân cấp cho chính quyền Thủ đô được thực hiện thống nhất, đúng pháp luật, hiệu quả.
2. Chỉ đạo theo dõi, đánh giá, kiểm soát rủi ro đối với việc thực hiện các cơ chế, chính sách đặc thù của Thủ đô.
3. Trong trường hợp cần thiết để bảo đảm lợi ích quốc gia, quốc phòng, an ninh và ngăn chặn các yếu tố có thể đe dọa an ninh quốc gia, Chính phủ quyết định tạm dừng việc thi hành toàn bộ hoặc một phần cơ chế, chính sách quy định tại Luật Thủ đô và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất; quyết định dừng việc thi hành văn bản quy định chi tiết, quy định theo thẩm quyền được giao trong Luật Thủ đô của các cơ quan nhà nước ở Trung ương, chính quyền Thủ đô.
4. Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo việc phối hợp liên ngành, xử lý các vấn đề liên vùng, liên ngành phát sinh trong quá trình thực hiện cơ chế, chính sách đặc thù của Thủ đô.
Điều 36. Trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ
1. Thực hiện quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực đối với các hoạt động trên địa bàn Thủ đô theo quy định và phù hợp với các quy định phân quyền, phân cấp cho chính quyền Thủ đô.
2. Phối hợp với Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, các tỉnh thuộc vùng Thủ đô trong việc xây dựng, tổ chức thực hiện, đánh giá các cơ chế, chính sách đặc thù.
3. Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ; kiểm tra, thanh tra theo thẩm quyền việc thực hiện pháp luật, cơ chế, chính sách đặc thù tại Thủ đô.
4. Không ban hành văn bản, không thực hiện hành vi hành chính làm hạn chế, vô hiệu hóa hoặc cản trở việc thực hiện các cơ chế, chính sách đặc thù được quy định trong Luật này, trừ trường hợp theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
Điều 37. Trách nhiệm của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có hoạt động liên kết, phát triển vùng với Thủ đô
1. Phối hợp với thành phố Hà Nội trong xây dựng, tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, chương trình, dự án liên kết phát triển vùng; phối hợp thực hiện việc thử nghiệm thể chế về liên kết, phát triển vùng được ban hành theo quy định của Luật này.
2. Cân đối nguồn vốn ngân sách địa phương để triển khai thực hiện các công trình, dự án hạ tầng kinh tế - xã hội trọng điểm về liên kết, phát triển vùng trên địa bàn.
3. Tuân thủ định hướng phân công chức năng vùng, tổ chức không gian phát triển vùng Thủ đô.
4. Cung cấp thông tin, dữ liệu phục vụ điều phối phát triển vùng; phối hợp xử lý các vấn đề liên vùng.
5. Phối hợp giám sát, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các quy định về liên kết, phát triển vùng.
Điều 38. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và Nhân dân Thủ đô
1. Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp của Thành phố, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm sau đây:
a) Kịp thời ban hành văn bản quy định chi tiết các điều, khoản, điểm được giao trong Luật Thủ đô, quy định biện pháp tổ chức thực hiện Luật Thủ đô theo thẩm quyền;
b) Đôn đốc, thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định của Luật Thủ đô thuộc phạm vi quản lý và chịu trách nhiệm về những vi phạm, yếu kém xảy ra trong công tác xây dựng, phát triển, quản lý và bảo vệ Thủ đô;
c) Công khai, minh bạch, tăng cường trách nhiệm giải trình trong quá trình thực hiện các quy định của Luật này; bảo đảm quyền của công dân, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động được biết, tham gia ý kiến, quyết định và kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định của Luật này;
d) Tổ chức và bảo đảm việc thi hành pháp luật về Thủ đô; quyết định những vấn đề của Thành phố trong phạm vi được phân quyền, phân cấp, ủy quyền theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
đ) Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền cấp xã, đơn vị kinh tế - xã hội đặc biệt, bảo đảm yêu cầu về kiểm soát quyền lực.
2. Hội đồng nhân dân Thành phố, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm thực hiện quy định tại các khoản 1 Điều này và các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Giám sát việc thi hành Luật Thủ đô;
b) Định kỳ xem xét báo cáo của Ủy ban nhân dân Thành phố về việc thực hiện Luật Thủ đô.
3. Ủy ban nhân dân Thành phố, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm thực hiện quy định tại các khoản 1 Điều này và các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Bảo đảm an toàn, thuận lợi cho hoạt động của các cơ quan trung ương của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan đại diện ngoại giao, tổ chức quốc tế và cho việc tổ chức các chương trình, sự kiện quốc gia, quốc tế trên địa bàn Thành phố; phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan bảo đảm cho hoạt động của các cơ quan trung ương, các hoạt động đối nội, đối ngoại quan trọng của Đảng và Nhà nước;
b) Chủ động phối hợp và hỗ trợ các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong vùng Thủ đô, vùng đồng bằng sông Hồng, vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, vùng động lực phía Bắc và cả nước thông qua việc mở rộng các hình thức liên kết, hợp tác cùng phát triển;
c) Tạo điều kiện để cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia có hiệu quả vào quá trình xây dựng, phát triển, quản lý và bảo vệ Thủ đô;
d) Tham gia ý kiến về các dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội có quy định liên quan đến các chính sách, cơ chế đặc thù quy định tại Luật này;
đ) Đề xuất việc áp dụng quy định trong các luật, nghị quyết của Quốc hội ban hành sau ngày Luật Thủ đô có hiệu lực thi hành có nội dung khác với quy định của Luật Thủ đô, báo cáo Hội đồng nhân dân Thành phố xem xét, quyết định theo quy định tại khoản 2 Điều 4 của Luật này;
e) Hằng năm, báo cáo Chính phủ về việc thực hiện Luật Thủ đô; báo cáo Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc thi hành Luật Thủ đô khi có yêu cầu.
4. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp của Thành phố và các tổ chức thành viên của Mặt trận có trách nhiệm giám sát, phản biện xã hội đối với việc thực hiện Luật Thủ đô.
5. Cán bộ, công chức, viên chức của Thủ đô phải không ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; gương mẫu trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao; hướng dẫn, tạo điều kiện cho người dân thực hiện đúng quy định của pháp luật.
6. Nhân dân Thủ đô có trách nhiệm nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tích cực tham gia xây dựng chính quyền, nếp sống văn minh, thanh lịch, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội của Thủ đô; tham gia giám sát xã hội, phản biện xã hội, bảo vệ lợi ích công cộng.
Điều 39. Trách nhiệm giải trình của chính quyền Thành phố
1. Chính quyền Thành phố thực hiện trách nhiệm giải trình theo quy định của pháp luật có liên quan và quy định tại khoản 2 và 3 Điều này đối với việc thực hiện các thẩm quyền và các cơ chế, chính sách đặc thù quy định tại Luật này.
2. Nội dung trách nhiệm giải trình của chính quyền Thành phố bao gồm:
a) Việc ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, quyết định quản lý có nội dung khác với quy định chung của pháp luật, được ban hành theo thẩm quyền quy định tại Luật này;
b) Cơ sở chính trị, pháp lý, thực tiễn; mục tiêu, phạm vi tác động và đánh giá rủi ro, hệ quả kinh tế - xã hội của việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù;
c) Kết quả thực hiện, hiệu quả sử dụng nguồn lực, tác động đối với phát triển Thủ đô và lợi ích chung của quốc gia;
d) Việc phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hạn chế, bất cập, sai sót phát sinh trong quá trình thực hiện các thẩm quyền, cơ chế, chính sách đặc thù.
3. Chính quyền Thành phố có trách nhiệm:
a) Chủ động báo cáo, giải trình với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và cơ quan có thẩm quyền của Quốc hội về việc thực hiện các thẩm quyền, cơ chế, chính sách đặc thù theo Luật này;
b) Thực hiện giải trình theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi phát sinh vấn đề lớn, có tác động lan tỏa hoặc ảnh hưởng đến bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội và lợi ích quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân;
c) Công khai nội dung giải trình theo quy định của pháp luật, bảo đảm để Nhân dân Thủ đô giám sát.
4. Việc giải trình quy định tại Điều này là căn cứ để xem xét việc tiếp tục, mở rộng, điều chỉnh hoặc chấm dứt việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù đối với Thủ đô Hà Nội.
Điều 40. Miễn trừ, loại trừ trách nhiệm pháp lý
1. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị; công chức, viên chức, người tham gia xây dựng, ban hành văn bản và tổ chức thực hiện các cơ chế, chính sách được phân quyền theo Luật này được xem xét loại trừ, miễn trách nhiệm pháp lý khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:
a) Đã tuân thủ đầy đủ trình tự, thủ tục, thẩm quyền, quy trình chuyên môn theo quy định của pháp luật và của Luật này;
b) Quyết định, hành vi được thực hiện trên cơ sở lợi ích chung, vì sự phát triển của Thủ đô, không vụ lợi, không vì động cơ cá nhân;
c) Đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ báo cáo, xin ý kiến, công khai, minh bạch theo quy định;
d) Thiệt hại phát sinh là hệ quả khách quan của rủi ro trong thí điểm cơ chế, chính sách mới, mô hình mới, không phải do cố ý vi phạm pháp luật.
2. Việc xem xét miễn trừ, loại trừ trách nhiệm pháp lý được áp dụng trong các lĩnh vực được phân quyền, bao gồm ban hành văn bản quy phạm pháp luật, quyết định hành chính, tổ chức thực hiện chính sách, thí điểm cơ chế, chính sách, thử nghiệm có kiểm soát và các hoạt động công vụ khác theo Luật này.
Chương IX
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 41. Hiệu lực thi hành
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày … tháng … năm 2026 và thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15.
Điều 42. Điều khoản chuyển tiếp
1. Các cơ chế, chính sách đặc thù; văn bản quy phạm pháp luật; quy định, quyết định, quy chế do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã ban hành trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà phù hợp với nguyên tắc phân quyền của Luật này thì tiếp tục được áp dụng cho đến khi bị thay thế, sửa đổi, bãi bỏ theo quy định của Luật này.
2. Trường hợp các văn bản quy định tại khoản 1 Điều này có nội dung khác với quy định của cơ quan nhà nước cấp trên nhưng được ban hành đúng thẩm quyền theo Luật Thủ đô số 39/2024/QH15 thì tiếp tục được áp dụng trên địa bàn Thủ đô theo nguyên tắc quy định tại Điều 4 và Điều 12 của Luật này.
3. Các chương trình, dự án, đề án, nhiệm vụ, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế tài chính, cơ chế quản lý, mô hình tổ chức, vị trí việc làm, cơ chế tự chủ, quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách đã được phê duyệt, đang triển khai trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì được tiếp tục thực hiện theo quyết định đã ban hành; trường hợp phù hợp với quy định tại Luật này thì được chuyển sang thực hiện theo cơ chế, thẩm quyền quy định của Luật này mà không phải phê duyệt lại.
4. Các cơ chế thí điểm, thử nghiệm, thử nghiệm có kiểm soát, mô hình quản trị mới đang được triển khai trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành được tiếp tục thực hiện theo phương án đã được phê duyệt; Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân Thành phố được điều chỉnh nội dung, phạm vi, thời gian thí điểm để phù hợp với quy định tại Luật này mà không phải thực hiện lại trình tự phê duyệt.
5. Đối với các nội dung về tổ chức chính quyền, tổ chức bộ máy, chế độ công vụ, vị trí việc làm đã được thực hiện trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục được thực hiện cho đến khi Hội đồng nhân dân Thành phố ban hành quy định mới theo thẩm quyền quy định tại Luật này.
Đăng xuất
Việc làm Hồ Chí Minh