Công văn 6398/BNNMT-TTTV năm 2026 tăng cường thiết lập, cấp mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói nông sản do Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành
| Số hiệu | 6398/BNNMT-TTTV |
| Ngày ban hành | 17/06/2026 |
| Ngày có hiệu lực | 17/06/2026 |
| Loại văn bản | Công văn |
| Cơ quan ban hành | Bộ Nông nghiệp và Môi trường |
| Người ký | Hoàng Trung |
| Lĩnh vực | Lĩnh vực khác |
|
BỘ NÔNG NGHIỆP
VÀ MÔI TRƯỜNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 6398/BNNMT-TTTV |
Hà Nội, ngày 17 tháng 6 năm 2026
|
Kính gửi: Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố
Trong những năm gần đây, xuất khẩu nông sản tiếp tục là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng của ngành nông nghiệp. Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của các thị trường nhập khẩu về an toàn thực phẩm và kiểm dịch thực vật, việc thiết lập, cấp và quản lý mã số vùng trồng (MSVT), mã số cơ sở đóng gói (CSĐG) đã trở thành yêu cầu bắt buộc đối với nhiều ngành hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy tại nhiều địa phương, diện tích vùng trồng đã được cấp mã số còn ít hơn nhiều so với diện tích sản xuất thực tế; số lượng cơ sở đóng gói được cấp mã số chưa đủ để đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất và xuất khẩu. Bên cạnh đó, vẫn còn tình trạng một số vùng trồng, cơ sở đóng gói không duy trì đầy đủ các điều kiện kỹ thuật sau khi được cấp mã số; vi phạm các quy định về kiểm dịch thực vật và an toàn thực phẩm của nước nhập khẩu, dẫn đến việc bị cảnh báo, tạm dừng hoặc thu hồi mã số, ảnh hưởng đến uy tín và hoạt động xuất khẩu nông sản của Việt Nam. Đặc biệt, đối với một số ngành hàng xuất khẩu chủ lực như sầu riêng, các vi phạm liên quan đến mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói đã và đang tác động trực tiếp đến khả năng duy trì và mở rộng thị trường xuất khẩu.
Thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng tại Thông báo số 250/TB-VPCP ngày 16 tháng 5 năm 2026 về tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và công tác kiểm nghiệm nông sản phục vụ xuất khẩu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tập trung chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ sau:
Đề nghị đồng chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực tiếp chỉ đạo và chịu trách nhiệm về kết quả xây dựng, phát triển, cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói trên địa bàn; bảo đảm đáp ứng đầy đủ các quy định của Việt Nam và yêu cầu của nước nhập khẩu.
Khẩn trương rà soát các vùng sản xuất tập trung, vùng nguyên liệu phục vụ xuất khẩu và hệ thống cơ sở đóng gói trên địa bàn; đối chiếu giữa diện tích sản xuất thực tế với diện tích đã được cấp mã số vùng trồng, giữa nhu cầu xuất khẩu với số lượng cơ sở đóng gói đã được cấp mã số để xây dựng kế hoạch phát triển mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói đối với các ngành hàng chủ lực của địa phương. Ưu tiên bố trí nguồn lực, nhân lực và kinh phí để hỗ trợ người dân, hợp tác xã, doanh nghiệp xây dựng vùng trồng, cơ sở đóng gói đáp ứng yêu cầu về an toàn thực phẩm và kiểm dịch thực vật; đẩy nhanh tiến độ thiết lập, kiểm tra, cấp mã số đối với các vùng trồng, cơ sở đóng gói đủ điều kiện; phấn đấu đưa toàn bộ các vùng nguyên liệu tập trung, vùng sản xuất phục vụ xuất khẩu và các cơ sở đóng gói đáp ứng yêu cầu vào diện được cấp mã số theo quy định.
Việc mở rộng số lượng mã số phải gắn với nâng cao chất lượng quản lý; bảo đảm các vùng trồng và cơ sở đóng gói được cấp mã số duy trì đầy đủ các điều kiện kỹ thuật trong suốt quá trình hoạt động; không để xảy ra tình trạng cấp mã số hình thức, buông lỏng quản lý dẫn đến vi phạm quy định của nước nhập khẩu, bị cảnh báo, tạm dừng hoặc thu hồi mã số.
2. Nâng cao chất lượng và bảo đảm duy trì điều kiện của mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói
Tăng cường hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc duy trì các điều kiện kỹ thuật tại vùng trồng và cơ sở đóng gói sau khi được cấp mã số; bảo đảm việc cấp mã số thực chất, hiệu quả, đúng quy định.
Chỉ đạo các cơ quan chuyên môn hướng dẫn người sản xuất, hợp tác xã và doanh nghiệp thực hiện nghiêm các quy định về quản lý sinh vật gây hại, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, thu hoạch, sơ chế, đóng gói và các yêu cầu kỹ thuật của thị trường nhập khẩu.
Đối với các ngành hàng có yêu cầu kiểm soát đặc thù của nước nhập khẩu, đặc biệt là sầu riêng xuất khẩu sang Trung Quốc, cần tăng cường kiểm soát các đối tượng kiểm dịch thực vật, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, kim loại nặng và các chỉ tiêu an toàn thực phẩm theo quy định của Việt Nam và nước nhập khẩu.
3. Tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm
Tổ chức thanh tra, kiểm tra thường xuyên và đột xuất đối với các vùng trồng, cơ sở đóng gói đã được cấp mã số; kịp thời phát hiện, chấn chỉnh và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.
Kiên quyết ngăn chặn và xử lý triệt để các hành vi mua bán, cho thuê, mượn, sử dụng trái phép mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói; gian lận hồ sơ hoặc các hành vi làm ảnh hưởng đến chất lượng, uy tín nông sản xuất khẩu của Việt Nam.
Trường hợp phát hiện dấu hiệu vi phạm, chủ động phối hợp với cơ quan chức năng để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.
4. Tăng cường tuyên truyền, tập huấn và hỗ trợ người dân, doanh nghiệp
Đẩy mạnh tuyên truyền để người sản xuất, hợp tác xã, cơ sở đóng gói và doanh nghiệp nhận thức đầy đủ về vai trò của mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói trong quản lý chất lượng và duy trì thị trường xuất khẩu.
Tăng cường tập huấn, phổ biến các quy định của nước nhập khẩu; chủ động hỗ trợ người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp khắc phục các tồn tại, nâng cao năng lực đáp ứng yêu cầu xuất khẩu.
5. Hoàn thiện hồ sơ và chủ động đề nghị phê duyệt mã số phục vụ xuất khẩu
Đối với các vùng trồng, cơ sở đóng gói đã được kiểm tra, đánh giá đáp ứng đầy đủ các quy định của Việt Nam và yêu cầu của nước nhập khẩu, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố chỉ đạo cơ quan chuyên môn khẩn trương hoàn thiện hồ sơ, thực hiện cấp mã số theo thẩm quyền và tổng hợp danh sách gửi về Bộ Nông nghiệp và Môi trường (qua Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật) để tổng hợp gửi cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu phê duyệt.
Không để tồn đọng hồ sơ hoặc để xảy ra tình trạng vùng trồng, cơ sở đóng gói đã đáp ứng điều kiện nhưng chưa được hoàn thiện thủ tục đề nghị nước nhập khẩu phê duyệt, làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu nông sản trên địa bàn.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị UBND các tỉnh, thành phố chủ động tổ chức triển khai thực hiện. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc đề nghị thông tin về Bộ Nông nghiệp và Môi trường để phối hợp xử lý./.
|
|
KT. BỘ TRƯỞNG |
|
BỘ NÔNG NGHIỆP
VÀ MÔI TRƯỜNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 6398/BNNMT-TTTV |
Hà Nội, ngày 17 tháng 6 năm 2026
|
Kính gửi: Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố
Trong những năm gần đây, xuất khẩu nông sản tiếp tục là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng của ngành nông nghiệp. Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của các thị trường nhập khẩu về an toàn thực phẩm và kiểm dịch thực vật, việc thiết lập, cấp và quản lý mã số vùng trồng (MSVT), mã số cơ sở đóng gói (CSĐG) đã trở thành yêu cầu bắt buộc đối với nhiều ngành hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy tại nhiều địa phương, diện tích vùng trồng đã được cấp mã số còn ít hơn nhiều so với diện tích sản xuất thực tế; số lượng cơ sở đóng gói được cấp mã số chưa đủ để đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất và xuất khẩu. Bên cạnh đó, vẫn còn tình trạng một số vùng trồng, cơ sở đóng gói không duy trì đầy đủ các điều kiện kỹ thuật sau khi được cấp mã số; vi phạm các quy định về kiểm dịch thực vật và an toàn thực phẩm của nước nhập khẩu, dẫn đến việc bị cảnh báo, tạm dừng hoặc thu hồi mã số, ảnh hưởng đến uy tín và hoạt động xuất khẩu nông sản của Việt Nam. Đặc biệt, đối với một số ngành hàng xuất khẩu chủ lực như sầu riêng, các vi phạm liên quan đến mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói đã và đang tác động trực tiếp đến khả năng duy trì và mở rộng thị trường xuất khẩu.
Thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng tại Thông báo số 250/TB-VPCP ngày 16 tháng 5 năm 2026 về tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và công tác kiểm nghiệm nông sản phục vụ xuất khẩu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tập trung chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ sau:
Đề nghị đồng chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực tiếp chỉ đạo và chịu trách nhiệm về kết quả xây dựng, phát triển, cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói trên địa bàn; bảo đảm đáp ứng đầy đủ các quy định của Việt Nam và yêu cầu của nước nhập khẩu.
Khẩn trương rà soát các vùng sản xuất tập trung, vùng nguyên liệu phục vụ xuất khẩu và hệ thống cơ sở đóng gói trên địa bàn; đối chiếu giữa diện tích sản xuất thực tế với diện tích đã được cấp mã số vùng trồng, giữa nhu cầu xuất khẩu với số lượng cơ sở đóng gói đã được cấp mã số để xây dựng kế hoạch phát triển mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói đối với các ngành hàng chủ lực của địa phương. Ưu tiên bố trí nguồn lực, nhân lực và kinh phí để hỗ trợ người dân, hợp tác xã, doanh nghiệp xây dựng vùng trồng, cơ sở đóng gói đáp ứng yêu cầu về an toàn thực phẩm và kiểm dịch thực vật; đẩy nhanh tiến độ thiết lập, kiểm tra, cấp mã số đối với các vùng trồng, cơ sở đóng gói đủ điều kiện; phấn đấu đưa toàn bộ các vùng nguyên liệu tập trung, vùng sản xuất phục vụ xuất khẩu và các cơ sở đóng gói đáp ứng yêu cầu vào diện được cấp mã số theo quy định.
Việc mở rộng số lượng mã số phải gắn với nâng cao chất lượng quản lý; bảo đảm các vùng trồng và cơ sở đóng gói được cấp mã số duy trì đầy đủ các điều kiện kỹ thuật trong suốt quá trình hoạt động; không để xảy ra tình trạng cấp mã số hình thức, buông lỏng quản lý dẫn đến vi phạm quy định của nước nhập khẩu, bị cảnh báo, tạm dừng hoặc thu hồi mã số.
2. Nâng cao chất lượng và bảo đảm duy trì điều kiện của mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói
Tăng cường hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc duy trì các điều kiện kỹ thuật tại vùng trồng và cơ sở đóng gói sau khi được cấp mã số; bảo đảm việc cấp mã số thực chất, hiệu quả, đúng quy định.
Chỉ đạo các cơ quan chuyên môn hướng dẫn người sản xuất, hợp tác xã và doanh nghiệp thực hiện nghiêm các quy định về quản lý sinh vật gây hại, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, thu hoạch, sơ chế, đóng gói và các yêu cầu kỹ thuật của thị trường nhập khẩu.
Đối với các ngành hàng có yêu cầu kiểm soát đặc thù của nước nhập khẩu, đặc biệt là sầu riêng xuất khẩu sang Trung Quốc, cần tăng cường kiểm soát các đối tượng kiểm dịch thực vật, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, kim loại nặng và các chỉ tiêu an toàn thực phẩm theo quy định của Việt Nam và nước nhập khẩu.
3. Tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm
Tổ chức thanh tra, kiểm tra thường xuyên và đột xuất đối với các vùng trồng, cơ sở đóng gói đã được cấp mã số; kịp thời phát hiện, chấn chỉnh và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.
Kiên quyết ngăn chặn và xử lý triệt để các hành vi mua bán, cho thuê, mượn, sử dụng trái phép mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói; gian lận hồ sơ hoặc các hành vi làm ảnh hưởng đến chất lượng, uy tín nông sản xuất khẩu của Việt Nam.
Trường hợp phát hiện dấu hiệu vi phạm, chủ động phối hợp với cơ quan chức năng để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.
4. Tăng cường tuyên truyền, tập huấn và hỗ trợ người dân, doanh nghiệp
Đẩy mạnh tuyên truyền để người sản xuất, hợp tác xã, cơ sở đóng gói và doanh nghiệp nhận thức đầy đủ về vai trò của mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói trong quản lý chất lượng và duy trì thị trường xuất khẩu.
Tăng cường tập huấn, phổ biến các quy định của nước nhập khẩu; chủ động hỗ trợ người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp khắc phục các tồn tại, nâng cao năng lực đáp ứng yêu cầu xuất khẩu.
5. Hoàn thiện hồ sơ và chủ động đề nghị phê duyệt mã số phục vụ xuất khẩu
Đối với các vùng trồng, cơ sở đóng gói đã được kiểm tra, đánh giá đáp ứng đầy đủ các quy định của Việt Nam và yêu cầu của nước nhập khẩu, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố chỉ đạo cơ quan chuyên môn khẩn trương hoàn thiện hồ sơ, thực hiện cấp mã số theo thẩm quyền và tổng hợp danh sách gửi về Bộ Nông nghiệp và Môi trường (qua Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật) để tổng hợp gửi cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu phê duyệt.
Không để tồn đọng hồ sơ hoặc để xảy ra tình trạng vùng trồng, cơ sở đóng gói đã đáp ứng điều kiện nhưng chưa được hoàn thiện thủ tục đề nghị nước nhập khẩu phê duyệt, làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu nông sản trên địa bàn.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị UBND các tỉnh, thành phố chủ động tổ chức triển khai thực hiện. Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc đề nghị thông tin về Bộ Nông nghiệp và Môi trường để phối hợp xử lý./.
|
|
KT. BỘ TRƯỞNG |
Đăng xuất
Việc làm Hồ Chí Minh