Từ khóa gợi ý:
Không tìm thấy từ khóa phù hợp
Việc làm có thể bạn quan tâm
Không tìm thấy việc làm phù hợp

Công văn 479/TDTTVN-TCCB năm 2026 trả lời phản ánh, kiến nghị về thẩm quyền ban hành mức thưởng của cấp tỉnh cho huấn luyện viên thể thao do Cục Thể dục thể thao Việt Nam ban hành

Số hiệu 479/TDTTVN-TCCB
Ngày ban hành 03/03/2026
Ngày có hiệu lực 03/03/2026
Loại văn bản Công văn
Cơ quan ban hành Cục Thể dục thể thao Việt Nam
Người ký Nguyễn Hồng Minh
Lĩnh vực Bộ máy hành chính,Thể thao - Y tế

BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO
VÀ DU LỊCH
CỤC THỂ DỤC THỂ THAO
VIỆT NAM
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 479/TDTTVN-TCCB
V/v trả lời phản ánh, kiến nghị

Hà Nội, ngày 03 tháng 3 năm 2026

 

Kính gửi: ông Nguyễn Viết Bắc

Ngày 03/02/2026, Cục Thể dục thể thao Việt Nam nhận được phản ánh, kiến nghị của ông Nguyễn Viết Bắc (Mã phản ánh, kiến nghị: 1770110805597) trên Trang Phản ánh, kiến nghị văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL).

Nội dung phản ánh, kiến nghị như sau: “Điểm h khoản 9 Điều 31 Luật Ngân sách nhà nước số 89/2025/QH15 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh “Quyết định cụ thể hoặc giao cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cụ thể đối với chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách theo quy định khung của Chính phủ hoặc Bộ Tài chính phủ hợp với khả năng cân đối của ngân sách địa phương”, đồng thời, điểm b khoản 12 Điều 32 Luật số 89/2025/QH15 cũng quy định: “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh lập và trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định các nội dung quy định tại khoản 9 Điều 31 của Luật này”. Điểm b khoản 1 Điều 20 Nghị định số 349/2025/NĐ-CP ngày 30/01/2025 của Chính phủ quy định chế độ, chính sách đối với thành viên đội thể thao tham gia tập trung tập huấn, thi đấu quy định về thẩm quyền quy định mức thưởng: “…, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chi trả tiền…; quy định mức thưởng và chi tiền thưởng cho huấn luyện viên, vận động viên đạt thành tích tại các giải thi đấu thể thao quốc gia và các giải thi đấu thể thao của bộ, ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương theo quy định của pháp luật”. Như vậy, thẩm quyền quy định mức thưởng cho huấn luyện viên, vận động viên đạt thành tích tại các giải thi đấu thể thao quốc gia và các giải thi đấu thể thao của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thuộc thẩm quyền của Hội đồng nhân dân cùng cấp, quy định thẩm quyền Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tại điểm b khoản 1 Điều 20

Nghị định số 349/2025/NĐ-CP là chưa phù hợp với quy định của Luật Ngân sách nhà nước. Đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tham mưu sửa đổi hoặc hướng dẫn để địa phương có cơ sở tham mưu cấp có thẩm quyền ban hành quy định mức thưởng cho huấn luyện viên, vận động viên đạt thành tích tại các giải thi đấu thể thao quốc gia và các giải thi đấu thể thao của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, cụ thể là ban hành Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh hay Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh để quy định nội dung trên.”

Sau khi nghiên cứu nội dung phản ánh, kiến nghị của ông Nguyễn Viết Bắc, Cục Thể dục thể thao Việt Nam có ý kiến như sau:

- Điểm d Khoản 1 Điều 15 Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định Hội đồng nhân dân tỉnh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn: “Quyết định cơ chế, chính sách, biện pháp để phát triển các lĩnh vực tài chính, đầu tư, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, đất đai, tài nguyên, môi trường, thương mại, dịch vụ, công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, giáo dục, y tế, hành chính tư pháp, nội vụ, lao động, xã hội, văn hóa, thông tin, du lịch, thể dục thể thao của địa phương theo quy định của pháp luật”;

- Khoản 1 Điều 16 Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn: “a) Xây dựng, trình Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét ban hành nghị quyết để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e, h, i, k và l khoản 1 Điều 15 của Luật này; b) Tổ chức thi hành Hiến pháp, pháp luật ở địa phương; tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp; bảo đảm điều kiện về cơ sở vật chất, nhân lực và các nguồn lực khác để thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương”;

- Điểm a, b khoản 1 Điều 21 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định về thẩm quyền của Hội đồng nhân dân như sau: Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ban hành nghị quyết để quy định: “a) Chi tiết điều, khoản, điểm và các nội dung khác được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; b) Chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên…”; điểm b khoản 2 Điều 21 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định về thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh như sau: Ban hành quyết định để quy định: “b) Biện pháp thi hành Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp về phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương”.

- Điểm h khoản 9 Điều 30 Luật Ngân sách nhà nước quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân các cấp: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ban hành Nghị quyết về chính sách, chế độ đối với huấn luyện viên, vận động viên thuộc thẩm quyền quản lý.

Căn cứ các quy định nêu trên, đồng thời tại khoản 2 Điều 21 Nghị định số 349/2025/NĐ-CP đã quy định rõ trách nhiệm của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: “Triển khai thực hiện Nghị định này và ban hành các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi cho thành viên đội thể thao thuộc thẩm quyền quản lý theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước, phù hợp với khả năng cân đối ngân sách của địa phương”, do đó việc giao trách nhiệm cho Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành mức thưởng cho huấn luyện viên, vận động viên đạt thành tích tại các giải thi đấu thể thao quốc gia và các giải thi đấu thể thao của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định tại điểm b khoản 1 Điều 20 Nghị định số 349/2025/NĐ-CP là phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành.

Xin thông tin để ông biết, tham khảo./.

 


Nơi nhận:
- Như trên;
- Lưu: VT, TCCB, PTT.03.

KT. CỤC TRƯỞNG
PHÓ CỤC TRƯỞNG




Nguyễn Hồng Minh

 

0

CHỦ QUẢN: Công ty TNHH THƯ VIỆN PHÁP LUẬT

Mã số thuế: 0315459414, cấp ngày: 04/01/2019, nơi cấp: Sở Kế hoạch và Đầu tư TP HCM.

Đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Tường Vũ

GP thiết lập trang TTĐTTH số 30/GP-TTĐT, do Sở TTTT TP.HCM cấp ngày 15/06/2022.

Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm số: 4639/2025/10/SLĐTBXH-VLATLĐ cấp ngày 25/02/2025.

Địa chỉ trụ sở: P.702A, Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, phường Phú Nhuận, TP. HCM

THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
...loại rủi ro pháp lý, nắm cơ hội làm giàu...
Thư Viện Nhà Đất
Thư Viện Nhà Đất
...hiểu pháp lý, rõ quy hoạch, giao dịch nhanh...