Công văn 3277/BYT-TCCB năm 2026 hướng dẫn nội dung vướng mắc trong quá trình triển khai xét tặng danh hiệu Thầy thuốc nhân dân, Thầy thuốc ưu tú lần thứ 15 - năm 2027 do Bộ Y tế ban hành
| Số hiệu | 3277/BYT-TCCB |
| Ngày ban hành | 07/05/2026 |
| Ngày có hiệu lực | 07/05/2026 |
| Loại văn bản | Công văn |
| Cơ quan ban hành | Bộ Y tế |
| Người ký | Vũ Mạnh Hà |
| Lĩnh vực | Thể thao - Y tế |
|
BỘ Y TẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 3277/BYT-TCCB |
Hà Nội, ngày 07 tháng 5 năm 2026 |
|
Kính gửi: |
- Ủy ban nhân dân các tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương; |
Ngày 24/3/2026 Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 794/QĐ- BYT về Kế hoạch triển khai xét tặng danh hiệu “Thầy thuốc nhân dân”, “Thầy thuốc ưu tú” lần thứ 15 - năm 2027.
Trên cơ sở các ý kiến gửi về, nhằm bảo đảm thống nhất trong quá trình tổ chức thực hiện việc xét tặng lần này, Bộ Y tế thống nhất cách hiểu và áp dụng các quy định tại Nghị định số 25/2024/NĐ-CP ngày 27/02/2024 của Chính phủ, cụ thể như sau:
1. Khoản 1, Điều 2 quy định: "bác sĩ, dược sĩ, y sĩ, điều dưỡng, hộ sinh, lương y, lương dược, cán bộ quản lý y tế, kỹ thuật y, dinh dưỡng lâm sàng, cấp cứu viên ngoại viện, tâm lý lâm sàng, người có bài thuốc gia truyền hoặc có phương pháp chữa bệnh gia truyền ". Vì vậy:
- Đối với đối tượng cử nhân sinh học, cử nhân hóa học, kỹ sư nông nghiệp không thuộc đối tượng xét tặng. Nếu sau đó, đối tượng này tham gia đào tạo chuyên ngành y, dược và được bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp (ngạch) của viên chức chuyên ngành y, dược thì được tham gia xét tặng danh hiệu “Thầy thuốc nhân dân”, “Thầy thuốc ưu tú”. Tuy nhiên, thời gian để tính thời gian làm chuyên môn kỹ thuật phải được tính từ khi được bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp (ngạch) của viên chức chuyên ngành y, dược;
- Đối với cá nhân tham gia đào tạo bác sĩ nội trú, sau khi tốt nghiệp bác sĩ đa khoa và trúng tuyển chương trình bác sĩ nội trú, thì thời gian công tác trong ngành và thời gian làm chuyên môn kỹ thuật được tính kể từ thời điểm được trúng tuyển chương trình bác sĩ nội trú; bao gồm cả thời gian tham gia đào tạo bác sĩ nội trú gắn với hoạt động thực hành, khám bệnh, chữa bệnh.
- Điểm a Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 25/2024/NĐ-CP quy định: “Thầy thuốc là cán bộ quản lý y tế” thì đối tượng được xem là cán bộ quản lý y tế trước hết phải là thầy thuốc theo quy định tại khoản 1 Điều 2 của Nghị định này. Các đối tượng không có bằng cấp về y, dược không thuộc đối tượng xét tặng danh hiệu “Thầy thuốc nhân dân”, “Thầy thuốc ưu tú” theo Điều 2 của Nghị định số 25/2024/NĐ-CP. Phạm vi và đối tượng được xác định là “cán bộ quản lý y tế” bao gồm:
+ Người giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý (người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu) tại các cơ sở y tế công lập và ngoài công lập;
+ Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu, điều dưỡng trưởng và tương đương tại các khoa, phòng, ban, văn phòng, trung tâm, bộ môn thuộc các cơ sở y tế, cơ sở giáo dục công lập và ngoài công lập;
+ Công chức làm công tác quản lý nhà nước về y tế tại Bộ Y tế, các Bộ, ban, ngành, Sở Y tế, các cơ quan hành chính ở trung ương, địa phương...
+ Viên chức làm việc tại các phòng, ban, bộ phận chức năng (tổ chức, hành chính, kế hoạch, tài chính,…) của các cơ sở y tế, đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ Y tế, trực thuộc Sở Y tế.
- Đối với các thầy thuốc làm công tác quản lý y tế (có trình độ trung cấp chuyên ngành y, dược trở lên) phải có xác nhận thời gian trực tiếp làm công tác chuyên môn kỹ thuật. Đơn vị xác nhận về thời gian làm chuyên môn kỹ thuật cho thầy thuốc phải dựa vào hồ sơ trực tiếp tham gia công tác chuyên môn kỹ thuật tại đơn vị và chịu trách nhiệm hoàn toàn trước pháp luật về tính chính xác của hồ sơ;
- Đối với thầy thuốc vừa làm công tác quản lý, vừa trực tiếp tham gia công tác chuyên môn tại các khoa lâm sàng được tính thời gian trực tiếp làm chuyên môn kỹ thuật theo quy định tại Khoản 4, Điều 4 Nghị định số 25/2024/NĐ-CP.
2. Khoản 1, Điều 2 quy định: “Thực hiện đúng các nguyên tắc khen thưởng quy định tại các Khoản 2 và 3 Điều 5 Luật Thi đua, khen thưởng trong việc xét tặng danh hiệu “Thầy thuốc nhân dân”, “Thầy thuốc ưu tú”.”
Theo đó, các danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng, nhiệm vụ khoa học và công nghệ, sáng kiến đã được sử dụng để xét tặng các danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng khác thì không được tiếp tục sử dụng làm căn cứ để xét tặng danh hiệu “Thầy thuốc nhân dân”, “Thầy thuốc ưu tú”, theo hướng dẫn của Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương tại Công văn số 419/BTĐKT-P.I ngày 23/4/2024 và Công văn số 1172/BTĐKT-P.II ngày 19/8/2024. Hội đồng cấp cơ sở chịu trách nhiệm rà soát, đối chiếu và bảo đảm việc xét chọn thành tích tuân thủ theo đúng nguyên tắc nêu trên.
3. Khoản 5 Điều 4 quy định: "Thời gian cá nhân đi học không gắn với bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ y, dược theo hình thức tập trung trên 12 tháng… không được tính là thời gian trực tiếp làm chuyên môn kỹ thuật y tế". Vì vậy, các thầy thuốc đi đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn y, dược (học định hướng, chuyên khoa cấp I, chuyên khoa cấp II,…) được tính là thời gian trực tiếp làm chuyên môn kỹ thuật y tế.
4. Khoản 6 Điều 4 quy định: "Trường hợp cá nhân có sự chuyển đổi vị trí công tác, gián đoạn thời gian trực tiếp làm chuyên môn kỹ thuật thì được cộng dồn các thời gian trực tiếp làm chuyên môn kỹ thuật y tế” để tính số năm làm chuyên môn kỹ thuật và phải có xác nhận thời gian làm chuyên môn kỹ thuật y tế tại các cơ sở y tế đã công tác;
5. Khoản 2 Điều 5 quy định: “Cá nhân đã nghỉ hưu theo quy định của pháp luật về lao động và bảo hiểm xã hội không quá 03 năm, tính từ thời điểm nghỉ hưu mà không hoạt động chuyên môn kỹ thuật y tế được đề nghị xét tặng tại đơn vị đã công tác trước khi nghỉ hưu.”. Theo đó, các cá nhân sau khi nghỉ hưu vẫn tiếp tục hoạt động chuyên môn kỹ thuật y tế (kể cả y tế công lập và y tế ngoài công lập) thì được đề nghị xét tặng tại đơn vị đang công tác. Các cá nhân đã nghỉ hưu quá 03 năm, tính từ thời điểm nghỉ hưu mà không hoạt động chuyên môn kỹ thuật y tế thì không được tham gia xét tặng.
6. Khoản 1 Điều 8 quy định “Không yêu cầu áp dụng tiêu chuẩn về nhiệm vụ khoa học và công nghệ, sáng kiến đối với cá nhân công tác ở địa bàn biên giới, trên biển, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ và công tác trong các lĩnh vực: phong, lao, tâm thần, giải phẫu bệnh, pháp y, pháp y tâm thần, phòng chống dịch bệnh nguy hiểm, cấp cứu 115, hồi sức cấp cứu hoặc công tác trong các cơ sở giam giữ.”.
Tuy nhiên, đây là danh hiệu vinh dự Nhà nước, được Hội đồng các cấp xem xét, bỏ phiếu lựa chọn trên cơ sở đánh giá các cá nhân có đủ điều kiện, tiêu chuẩn và có nhiều đóng góp nổi bật trong công tác. Do đó, khuyến khích các cá nhân công tác ở các địa bàn và lĩnh vực nêu trên vẫn chủ động áp dụng tiêu chuẩn về nhiệm vụ khoa học và công nghệ, sáng kiến nhằm khẳng định thành tích nổi bật của các cá nhân khi tham gia xét tặng danh hiệu “Thầy thuốc ưu tú”.
7. Khoản 3 Điều 8 quy định: “Cá nhân là người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu được bổ nhiệm giữ chức vụ quản lý trên 36 tháng tính từ khi được bổ nhiệm đến thời điểm nộp hồ sơ, ngoài các tiêu chuẩn nêu trên nếu tham gia xét tặng danh hiệu “Thầy thuốc nhân dân”, “Thầy thuốc ưu tú” thì tập thể do cá nhân quản lý phải đạt một trong các tiêu chuẩn sau:
a) 03 năm liền kề năm đề nghị xét tặng được công nhận danh hiệu “Tập thể lao động tiên tiến” hoặc “Đơn vị tiên tiến”, trong đó có 02 lần đạt danh hiệu “Tập thể lao động xuất sắc” hoặc “Đơn vị quyết thắng”;
b) Đã được tặng danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng từ cấp bộ, ban, ngành, tỉnh trở lên.”
Đối với quy định tại khoản 3 Điều 8, chức vụ quản lý làm căn cứ áp dụng tiêu chuẩn này là chức vụ hiện đang giữ tại thời điểm xét tặng. Thời gian giữ chức vụ được tính kể từ thời điểm được bổ nhiệm đến thời điểm nộp hồ sơ và phải bảo đảm đủ trên 36 tháng. Đối với những cá nhân có thời gian giữ chức vụ hiện tại chưa đủ 36 tháng (tính từ ngày có quyết định bổ nhiệm đến thời điểm nộp hồ sơ) thì không cần áp dụng tiêu chuẩn này. Thành tích của tập thể do cá nhân đang quản lý được xem xét, đánh giá trong khoảng thời gian 36 tháng tính tới thời điểm xét tặng.
Đối với các tập thể không thuộc diện được xét tặng danh hiệu “Tập thể lao động xuất sắc” thì có thể được áp dụng theo điểm b khoản 3 Điều 8. Theo đó, tập thể phải được tặng Bằng khen của Bộ, ban, ngành, tỉnh trở lên, đây vẫn là thành tích khen thưởng công trạng (được xem xét theo tiêu chuẩn “có 02 năm liên tục được công nhận hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” theo điểm d khoản 3 Điều 74 Luật Thi đua, khen thưởng) và cũng được xem xét, đánh giá trong khoảng thời gian 36 tháng tính tới thời điểm xét tặng.
8. Khoản 4 Điều 8 quy định: “Cá nhân công tác ở địa bàn biên giới, trên biển, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ ngoài đạt các tiêu chí quy định tại các điểm a, b và c khoản 3 Điều 65 Luật Thi đua, khen thưởng phải đạt được các tiêu chuẩn sau: có ít nhất 05 năm tính đến thời điểm xét tặng được công nhận hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên, trong thời gian đó có từ 03 năm trở lên được công nhận hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và được tặng Bằng khen cấp bộ, ban, ngành, tỉnh ít nhất 01 lần.”.
Theo đó, cá nhân phải có thời gian công tác thực tế tại các địa bàn nêu trên từ đủ 05 năm trở lên tính đến thời điểm xét tặng.
9. Điều 9 quy định về tiêu chuẩn xét tặng danh hiệu "Thầy thuốc nhân dân", trong đó nêu rõ "Danh hiệu “Thầy thuốc nhân dân” được xét tặng cho cá nhân đã được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu "Thầy thuốc ưu tú" đạt các tiêu chuẩn sau:…"
|
BỘ Y TẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 3277/BYT-TCCB |
Hà Nội, ngày 07 tháng 5 năm 2026 |
|
Kính gửi: |
- Ủy ban nhân dân các tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương; |
Ngày 24/3/2026 Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số 794/QĐ- BYT về Kế hoạch triển khai xét tặng danh hiệu “Thầy thuốc nhân dân”, “Thầy thuốc ưu tú” lần thứ 15 - năm 2027.
Trên cơ sở các ý kiến gửi về, nhằm bảo đảm thống nhất trong quá trình tổ chức thực hiện việc xét tặng lần này, Bộ Y tế thống nhất cách hiểu và áp dụng các quy định tại Nghị định số 25/2024/NĐ-CP ngày 27/02/2024 của Chính phủ, cụ thể như sau:
1. Khoản 1, Điều 2 quy định: "bác sĩ, dược sĩ, y sĩ, điều dưỡng, hộ sinh, lương y, lương dược, cán bộ quản lý y tế, kỹ thuật y, dinh dưỡng lâm sàng, cấp cứu viên ngoại viện, tâm lý lâm sàng, người có bài thuốc gia truyền hoặc có phương pháp chữa bệnh gia truyền ". Vì vậy:
- Đối với đối tượng cử nhân sinh học, cử nhân hóa học, kỹ sư nông nghiệp không thuộc đối tượng xét tặng. Nếu sau đó, đối tượng này tham gia đào tạo chuyên ngành y, dược và được bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp (ngạch) của viên chức chuyên ngành y, dược thì được tham gia xét tặng danh hiệu “Thầy thuốc nhân dân”, “Thầy thuốc ưu tú”. Tuy nhiên, thời gian để tính thời gian làm chuyên môn kỹ thuật phải được tính từ khi được bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp (ngạch) của viên chức chuyên ngành y, dược;
- Đối với cá nhân tham gia đào tạo bác sĩ nội trú, sau khi tốt nghiệp bác sĩ đa khoa và trúng tuyển chương trình bác sĩ nội trú, thì thời gian công tác trong ngành và thời gian làm chuyên môn kỹ thuật được tính kể từ thời điểm được trúng tuyển chương trình bác sĩ nội trú; bao gồm cả thời gian tham gia đào tạo bác sĩ nội trú gắn với hoạt động thực hành, khám bệnh, chữa bệnh.
- Điểm a Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 25/2024/NĐ-CP quy định: “Thầy thuốc là cán bộ quản lý y tế” thì đối tượng được xem là cán bộ quản lý y tế trước hết phải là thầy thuốc theo quy định tại khoản 1 Điều 2 của Nghị định này. Các đối tượng không có bằng cấp về y, dược không thuộc đối tượng xét tặng danh hiệu “Thầy thuốc nhân dân”, “Thầy thuốc ưu tú” theo Điều 2 của Nghị định số 25/2024/NĐ-CP. Phạm vi và đối tượng được xác định là “cán bộ quản lý y tế” bao gồm:
+ Người giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý (người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu) tại các cơ sở y tế công lập và ngoài công lập;
+ Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu, điều dưỡng trưởng và tương đương tại các khoa, phòng, ban, văn phòng, trung tâm, bộ môn thuộc các cơ sở y tế, cơ sở giáo dục công lập và ngoài công lập;
+ Công chức làm công tác quản lý nhà nước về y tế tại Bộ Y tế, các Bộ, ban, ngành, Sở Y tế, các cơ quan hành chính ở trung ương, địa phương...
+ Viên chức làm việc tại các phòng, ban, bộ phận chức năng (tổ chức, hành chính, kế hoạch, tài chính,…) của các cơ sở y tế, đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ Y tế, trực thuộc Sở Y tế.
- Đối với các thầy thuốc làm công tác quản lý y tế (có trình độ trung cấp chuyên ngành y, dược trở lên) phải có xác nhận thời gian trực tiếp làm công tác chuyên môn kỹ thuật. Đơn vị xác nhận về thời gian làm chuyên môn kỹ thuật cho thầy thuốc phải dựa vào hồ sơ trực tiếp tham gia công tác chuyên môn kỹ thuật tại đơn vị và chịu trách nhiệm hoàn toàn trước pháp luật về tính chính xác của hồ sơ;
- Đối với thầy thuốc vừa làm công tác quản lý, vừa trực tiếp tham gia công tác chuyên môn tại các khoa lâm sàng được tính thời gian trực tiếp làm chuyên môn kỹ thuật theo quy định tại Khoản 4, Điều 4 Nghị định số 25/2024/NĐ-CP.
2. Khoản 1, Điều 2 quy định: “Thực hiện đúng các nguyên tắc khen thưởng quy định tại các Khoản 2 và 3 Điều 5 Luật Thi đua, khen thưởng trong việc xét tặng danh hiệu “Thầy thuốc nhân dân”, “Thầy thuốc ưu tú”.”
Theo đó, các danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng, nhiệm vụ khoa học và công nghệ, sáng kiến đã được sử dụng để xét tặng các danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng khác thì không được tiếp tục sử dụng làm căn cứ để xét tặng danh hiệu “Thầy thuốc nhân dân”, “Thầy thuốc ưu tú”, theo hướng dẫn của Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương tại Công văn số 419/BTĐKT-P.I ngày 23/4/2024 và Công văn số 1172/BTĐKT-P.II ngày 19/8/2024. Hội đồng cấp cơ sở chịu trách nhiệm rà soát, đối chiếu và bảo đảm việc xét chọn thành tích tuân thủ theo đúng nguyên tắc nêu trên.
3. Khoản 5 Điều 4 quy định: "Thời gian cá nhân đi học không gắn với bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ y, dược theo hình thức tập trung trên 12 tháng… không được tính là thời gian trực tiếp làm chuyên môn kỹ thuật y tế". Vì vậy, các thầy thuốc đi đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn y, dược (học định hướng, chuyên khoa cấp I, chuyên khoa cấp II,…) được tính là thời gian trực tiếp làm chuyên môn kỹ thuật y tế.
4. Khoản 6 Điều 4 quy định: "Trường hợp cá nhân có sự chuyển đổi vị trí công tác, gián đoạn thời gian trực tiếp làm chuyên môn kỹ thuật thì được cộng dồn các thời gian trực tiếp làm chuyên môn kỹ thuật y tế” để tính số năm làm chuyên môn kỹ thuật và phải có xác nhận thời gian làm chuyên môn kỹ thuật y tế tại các cơ sở y tế đã công tác;
5. Khoản 2 Điều 5 quy định: “Cá nhân đã nghỉ hưu theo quy định của pháp luật về lao động và bảo hiểm xã hội không quá 03 năm, tính từ thời điểm nghỉ hưu mà không hoạt động chuyên môn kỹ thuật y tế được đề nghị xét tặng tại đơn vị đã công tác trước khi nghỉ hưu.”. Theo đó, các cá nhân sau khi nghỉ hưu vẫn tiếp tục hoạt động chuyên môn kỹ thuật y tế (kể cả y tế công lập và y tế ngoài công lập) thì được đề nghị xét tặng tại đơn vị đang công tác. Các cá nhân đã nghỉ hưu quá 03 năm, tính từ thời điểm nghỉ hưu mà không hoạt động chuyên môn kỹ thuật y tế thì không được tham gia xét tặng.
6. Khoản 1 Điều 8 quy định “Không yêu cầu áp dụng tiêu chuẩn về nhiệm vụ khoa học và công nghệ, sáng kiến đối với cá nhân công tác ở địa bàn biên giới, trên biển, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ và công tác trong các lĩnh vực: phong, lao, tâm thần, giải phẫu bệnh, pháp y, pháp y tâm thần, phòng chống dịch bệnh nguy hiểm, cấp cứu 115, hồi sức cấp cứu hoặc công tác trong các cơ sở giam giữ.”.
Tuy nhiên, đây là danh hiệu vinh dự Nhà nước, được Hội đồng các cấp xem xét, bỏ phiếu lựa chọn trên cơ sở đánh giá các cá nhân có đủ điều kiện, tiêu chuẩn và có nhiều đóng góp nổi bật trong công tác. Do đó, khuyến khích các cá nhân công tác ở các địa bàn và lĩnh vực nêu trên vẫn chủ động áp dụng tiêu chuẩn về nhiệm vụ khoa học và công nghệ, sáng kiến nhằm khẳng định thành tích nổi bật của các cá nhân khi tham gia xét tặng danh hiệu “Thầy thuốc ưu tú”.
7. Khoản 3 Điều 8 quy định: “Cá nhân là người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu được bổ nhiệm giữ chức vụ quản lý trên 36 tháng tính từ khi được bổ nhiệm đến thời điểm nộp hồ sơ, ngoài các tiêu chuẩn nêu trên nếu tham gia xét tặng danh hiệu “Thầy thuốc nhân dân”, “Thầy thuốc ưu tú” thì tập thể do cá nhân quản lý phải đạt một trong các tiêu chuẩn sau:
a) 03 năm liền kề năm đề nghị xét tặng được công nhận danh hiệu “Tập thể lao động tiên tiến” hoặc “Đơn vị tiên tiến”, trong đó có 02 lần đạt danh hiệu “Tập thể lao động xuất sắc” hoặc “Đơn vị quyết thắng”;
b) Đã được tặng danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng từ cấp bộ, ban, ngành, tỉnh trở lên.”
Đối với quy định tại khoản 3 Điều 8, chức vụ quản lý làm căn cứ áp dụng tiêu chuẩn này là chức vụ hiện đang giữ tại thời điểm xét tặng. Thời gian giữ chức vụ được tính kể từ thời điểm được bổ nhiệm đến thời điểm nộp hồ sơ và phải bảo đảm đủ trên 36 tháng. Đối với những cá nhân có thời gian giữ chức vụ hiện tại chưa đủ 36 tháng (tính từ ngày có quyết định bổ nhiệm đến thời điểm nộp hồ sơ) thì không cần áp dụng tiêu chuẩn này. Thành tích của tập thể do cá nhân đang quản lý được xem xét, đánh giá trong khoảng thời gian 36 tháng tính tới thời điểm xét tặng.
Đối với các tập thể không thuộc diện được xét tặng danh hiệu “Tập thể lao động xuất sắc” thì có thể được áp dụng theo điểm b khoản 3 Điều 8. Theo đó, tập thể phải được tặng Bằng khen của Bộ, ban, ngành, tỉnh trở lên, đây vẫn là thành tích khen thưởng công trạng (được xem xét theo tiêu chuẩn “có 02 năm liên tục được công nhận hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” theo điểm d khoản 3 Điều 74 Luật Thi đua, khen thưởng) và cũng được xem xét, đánh giá trong khoảng thời gian 36 tháng tính tới thời điểm xét tặng.
8. Khoản 4 Điều 8 quy định: “Cá nhân công tác ở địa bàn biên giới, trên biển, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ ngoài đạt các tiêu chí quy định tại các điểm a, b và c khoản 3 Điều 65 Luật Thi đua, khen thưởng phải đạt được các tiêu chuẩn sau: có ít nhất 05 năm tính đến thời điểm xét tặng được công nhận hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên, trong thời gian đó có từ 03 năm trở lên được công nhận hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và được tặng Bằng khen cấp bộ, ban, ngành, tỉnh ít nhất 01 lần.”.
Theo đó, cá nhân phải có thời gian công tác thực tế tại các địa bàn nêu trên từ đủ 05 năm trở lên tính đến thời điểm xét tặng.
9. Điều 9 quy định về tiêu chuẩn xét tặng danh hiệu "Thầy thuốc nhân dân", trong đó nêu rõ "Danh hiệu “Thầy thuốc nhân dân” được xét tặng cho cá nhân đã được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu "Thầy thuốc ưu tú" đạt các tiêu chuẩn sau:…"
Theo đó, cá nhân chỉ được tham gia xét tặng danh hiệu “Thầy thuốc nhân dân” sau khi đã được phong tặng danh hiệu “Thầy thuốc ưu tú”. Các tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 9, bao gồm cả tiêu chuẩn về nghiên cứu khoa học và khen thưởng phải đạt được sau thời điểm được phong tặng danh hiệu “Thầy thuốc ưu tú”.
10. Về thành phần Hội đồng xét tặng danh hiệu “Thầy thuốc nhân dân”, “Thầy thuốc ưu tú” các cấp: Hiện nay, do thực hiện Nghị quyết 60-NQ/TW năm 2025, từ ngày 01/6/2025, các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập hưởng 100% lương từ ngân sách nhà nước đã dừng hoạt động công đoàn, do đó về thành phần, số lượng thành viên cụ thể của Hội đồng do Chủ tịch Hội đồng quyết định.
11. Điều 14 quy định về hồ sơ đề nghị xét tặng danh hiệu “Thầy thuốc nhân dân”, “Thầy thuốc ưu tú”. Theo đó, cá nhân đề nghị xét tặng phải nộp đầy đủ các thành phần hồ sơ theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 14.
12. Hiện nay, một số tỉnh, thành phố vẫn đang trong quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy, theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 và các văn bản hướng dẫn của Bộ Y tế (Thông tư số 43/2025/TT-BYT và Thông tư số 53/2025/TT-BYT). Theo đó, các đơn vị trước khi sáp nhập, giải thể vẫn thực hiện đầy đủ các bước xét tặng theo trình tự tại Hội đồng cấp cơ sở; các đơn vị sau khi sáp nhập tiếp tục triển khai các bước tiếp theo trên cơ sở kết quả đã thực hiện trước đó, không thực hiện lại các nội dung đã hoàn thành, nhằm bảo đảm tiến độ theo quy định.
13. Các quy định khác:
- Nghị định số 25/2024/NĐ-CP không quy định về việc lấy giấy xác nhận việc chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tại nơi cư trú. Cá nhân phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung kê khai, Hội đồng cấp cơ sở có trách nhiệm xác minh, thẩm tra nội dung hồ sơ của cá nhân và chịu trách nhiệm về hồ sơ của cá nhân đó;
- Người có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật khi có ý kiến phản ánh liên quan đến xét tặng danh hiệu “Thầy thuốc nhân dân”, “Thầy thuốc ưu tú” chính là Chủ tịch Hội đồng các cấp. Phản ánh, kiến nghị gửi cấp nào thì Chủ tịch Hội đồng cấp đó phải có trách nhiệm giải quyết theo đúng quy định của Pháp luật;
- Khoản 4 Điều 4 quy định về cách tính thời gian đối với các cá nhân làm công tác quản lý y tế tại các cơ sở y tế. Theo đó, văn bản xác nhận thời gian làm chuyên môn kỹ thuật phải ghi rõ thời gian được quy đổi. Để bảo đảm thống nhất trong quá trình thực hiện, Bộ Y tế xin gửi biểu mẫu xác nhận thời gian làm chuyên môn kỹ thuật kèm theo.
- Biểu mẫu số 04: Căn cứ Điểm b, Khoản 4, Điều 10 quy định “…Tổ thư ký có trách nhiệm lấy ý kiến thành viên Hội đồng vắng mặt bằng phiếu bầu…”.
Vì vậy, các mục 6 và 7 phải ghi số thành viên Hội đồng tham gia bỏ phiếu theo Quyết định thành lập Hội đồng;
- Biểu mẫu số 05 và 06 các Danh sách trích ngang đề nghị xét tặng danh hiệu “Thầy thuốc nhân dân”, “Thầy thuốc ưu tú”, tại mục 12 Số đề tài khoa học, sáng kiến, ứng dụng khoa học, ngoài kê khai số lượng các đề tài, sáng kiến thì cần lựa chọn đề tài, sáng kiến tiêu biểu ghi rõ tên đề tài, sáng kiến, biên bản nghiệm thu, số Quyết định công nhận kết quả đề tài, sáng kiến; chứng nhận của cơ quan có thẩm quyền về hiệu quả áp dụng, phạm vi ảnh hưởng của nhiệm vụ khoa học và công nghệ.
- Biểu mẫu số 08 và 09 các Bản tóm tắt thành tích đề nghị xét tặng danh hiệu “Thầy thuốc nhân dân”, “Thầy thuốc ưu tú” không cần dán ảnh và không cần nộp ảnh kèm theo; hồ sơ phải được ký nháy từng trang và cá nhân phải cam kết về độ tin cậy, tính chính xác của hồ sơ và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Việc thẩm tra hồ sơ thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của Hội đồng cấp cơ sở;
- Hội đồng cấp Nhà nước chỉ nhận hồ sơ đủ điều kiện, tiêu chuẩn, thủ tục theo quy định của Nghị định số 25/2024/NĐ-CP.
Trên đây là một số ý kiến làm rõ những vấn đề liên quan đến quá trình xét tặng danh hiệu "Thầy thuốc nhân dân", "Thầy thuốc ưu tú" lần thứ 15. Đề nghị các đơn vị phổ biến, thực hiện công tác xét tặng danh hiệu "Thầy thuốc nhân dân", "Thầy thuốc ưu tú" theo thẩm quyền bảo đảm đúng quy định và tiến độ thời gian./.
|
|
KT. BỘ TRƯỞNG |
PHỤ LỤC
|
TÊN CƠ QUAN, TỔ CHỨC
CHỦ QUAN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: ……/…….-… |
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2026 |
XÁC NHẬN
THỜI GIAN CÔNG TÁC VÀ THỜI GIAN TRỰC TIẾP LÀM CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT Y TẾ
Căn cứ Luật Thi đua, khen thưởng ngày 15 tháng 6 năm 2022;
Căn cứ Điều 4 Nghị định số 25/2024/NĐ-CP ngày 27 tháng 02 năm 2024 của Chính phủ quy định về xét tặng danh hiệu “Thầy thuốc Nhân dân”, “Thầy thuốc Ưu tú”;
Theo đề nghị tại Công văn số …./…….. ngày ….. tháng …. năm 2026 của …………. về việc đề nghị xác nhận thời gian công tác và thời gian trực tiếp làm chuyên môn kỹ thuật y tế.
…………………. xác nhận thời gian công tác và thời gian trực tiếp làm chuyên môn kỹ thuật y tế để đề nghị xét tặng danh hiệu “Thầy thuốc Ưu tú” cho ông/bà …………………………………, như sau:
|
Từ tháng, năm đến tháng, năm |
Chức danh, chức vụ, cấp bậc, đơn vị công tác |
Số năm công tác |
Số năm trực tiếp làm chuyên môn kỹ thuật y tế (đã quy đổi theo Điều 4 Nghị định số 25/2024/NĐ-CP) |
|
…. - … |
……… |
… |
… |
|
……….. - ……….. |
……… |
… |
… |
|
|
Tổng cộng |
…. |
….. |
………………. xác nhận thời gian công tác và thời gian trực tiếp làm chuyên môn kỹ thuật y tế nêu trên để bổ sung hồ sơ đề nghị xét tặng danh hiệu “Thầy thuốc Ưu tú” cho ông/bà …………………………….../.
|
|
QUYỀN HẠN, CHỨC
VỤ CỦA NGƯỜI KÝ |
Đăng xuất
Việc làm Hồ Chí Minh