Từ khóa gợi ý:
Không tìm thấy từ khóa phù hợp
Việc làm có thể bạn quan tâm
Không tìm thấy việc làm phù hợp

Công văn 1696/HCTP-QT năm 2025 cung cấp thông tin pháp luật nước ngoài do Cục Hành chính Tư pháp ban hành

Số hiệu 1696/HCTP-QT
Ngày ban hành 04/11/2025
Ngày có hiệu lực 04/11/2025
Loại văn bản Công văn
Cơ quan ban hành Cục Hành chính Tư pháp
Người ký Nguyễn Thanh Hải
Lĩnh vực Quyền dân sự

BỘ TƯ PHÁP
CỤC HÀNH CHÍNH TƯ PHÁP
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 1696/HCTP-QT
V/v cung cấp thông tin pháp luật nước ngoài

Hà Nội, ngày 04 tháng 11 năm 2025

 

Kính gửi: Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

1. Theo quy định tại khoản 6 Điều 19, khoản 5 Điều 23 Luật Quốc tịch Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2025), một trong những điều kiện mà người xin nhập/xin trở lại quốc tịch Việt Nam đồng thời xin giữ quốc tịch nước ngoài phải đáp ứng là: việc giữ quốc tịch nước ngoài phải phù hợp với pháp luật của nước đó. Tương tự, điểm c khoản 1 Điều 9 Nghị định số 191/2025/NĐ-CP quy định trường hợp trẻ em đã được đăng ký khai sinh tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, có quốc tịch nước ngoài thì trẻ em đó có quốc tịch Việt Nam nếu cha mẹ thỏa thuận lựa chọn quốc tịch Việt Nam cho con khi thực hiện ghi vào Sổ hộ tịch việc khai sinh và việc giữ quốc tịch nước ngoài phải phù hợp với pháp luật của nước mà trẻ em đang mang quốc tịch. Theo đó, điều kiện “việc giữ quốc tịch nước ngoài phải phù hợp với pháp luật nước đó” được hiểu là: nếu pháp luật của quốc gia mà họ đang mang quốc tịch theo nguyên tắc đa tịch, không yêu cầu công dân nước ngoài phải thôi quốc tịch khi xin nhập quốc tịch nước đó, không quy định việc công dân nước đó tự động mất quốc tịch khi có quốc tịch nước ngoài, thì việc xin giữ quốc tịch nước ngoài của người đó là phù hợp.

Thực hiện quy định tại điểm e khoản 1 Điều 34 Nghị định số 191/2025/NĐ- CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quốc tịch Việt Nam, Bộ Ngoại giao (Cục Lãnh sự), đã có văn bản cung cấp thông tin về pháp luật quốc tịch của một số quốc gia/vùng lãnh thổ. Cục Hành chính tư pháp xin gửi thông tin do Bộ Ngoại giao (Cục Lãnh sự) cung cấp (chi tiết tại Phụ lục kèm theo)(1), đề nghị Sở Tư pháp theo dõi, cập nhật thường xuyên pháp luật quốc tịch của nước ngoài để có cơ sở thực hiện chức năng quản lý Nhà nước và giải quyết các việc quốc tịch; quán triệt việc thực hiện thống nhất các quy định và hướng dẫn, bảo đảm duy trì nguyên tắc một quốc tịch quy định tại Luật Quốc tịch Việt Nam.

2. Ngày 05/8/2025, Bộ Ngoại giao Đức có Công hàm số 505/02/512.00 gửi Đại sứ quán Việt Nam tại Đức khẳng định pháp luật Đức cơ bản cho phép công dân mang nhiều quốc tịch; công dân Đức có thể nhập, trở lại quốc tịch nước khác mà không mất quốc tịch Đức, kể cả đối với công chức và sỹ quan Đức. Do đó, phía Bộ Ngoại giao Đức đề nghị cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam không yêu cầu phía Đức cấp xác nhận liên quan đến việc công dân Đức nhập, trở lại quốc tịch Việt Nam đồng thời giữ quốc tịch Đức là phù hợp với pháp luật Đức.

Trên cơ sở đề xuất của Bộ Ngoại giao Đức, đối với các trường hợp xin nhập/trở lại quốc tịch Việt Nam đồng thời xin giữ quốc tịch Đức, Sở Tư pháp đề nghị người yêu cầu nộp Bản cam đoan về việc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài không quy định việc cấp loại giấy tờ này và việc xin giữ quốc tịch Đức khi xin nhập/trở lại quốc tịch Việt Nam là phù hợp với pháp luật của Đức.

Cục Hành chính tư pháp xin thông tin để các Sở Tư pháp biết, triển khai thực hiện/.

 


Nơi nhận:
- Như trên;
- TT Nguyễn Thanh Ngọc (để báo cáo);
- UBND các tỉnh, thành phố (để biết);
- Lưu: VT, QT (H).

CỤC TRƯỞNG




Nguyễn Thanh Hải

 

PHỤ LỤC

(kèm theo Công văn số 1696/HCTP-QT ngày 04/11/2025 )

STT

Quốc gia/ Vùng lãnh thổ

Công dân nước sở tại xin nhập/trở lại quốc tịch nước khác thì có bị mất quốc tịch sở tại hay không

Pháp luật nước sở tại có cho phép trẻ đồng thời có quốc tịch sở tại và quốc tịch nước ngoài hay không

Nước sở tại có yêu cầu người nước ngoài phải thôi quốc tịch hiện có khi xin nhập quốc tịch nước đó không

Nguồn văn bản pháp luật

I

Các Quốc gia/Vùng lãnh thổ có quy định pháp luật được hiểu là phù hợp với việc công dân giữ quốc tịch nước đó khi xin nhập/xin trở lại quốc tịch Việt Nam hoặc trẻ em được giữ quốc tịch nước đó khi thực hiện ghi vào sổ hộ tịch việc khai sinh và lựa chọn quốc tịch Việt Nam

1.

Vương quốc Anh

Theo Điều 12(1) Đạo luật Quốc tịch Anh, công dân Anh có quyền tự nguyện thôi quốc tịch; không có quy định yêu cầu thôi quốc tịch Anh khi nhập quốc tịch nước khác.

Theo Điều 1 Đạo luật Quốc tịch Anh, trẻ em có quốc tịch Anh nếu sinh ra tại Anh và có bố hoặc mẹ là công dân Anh hoặc thường trú nhân; không có quy định yêu cầu trẻ lựa chọn quốc tịch.

Điều 6 Đạo luật Quốc tịch Anh quy định các điều kiện nhập quốc tịch Anh, trong đó không yêu cầu người nước ngoài phải thôi quốc tịch gốc.

Đạo luật Quốc tịch Anh 1981, được sửa đổi, bổ sung[1]

2.

Australia

Theo Điều 33 Luật Quốc tịch Úc, công dân Úc có thể tự nguyện thôi quốc tịch Úc nếu họ có quốc tịch nước khác hoặc pháp luật nước nơi họ sinh ra hoặc thường trú bắt buộc thôi quốc tịch Úc.

Theo Điều 12 Luật Quốc tịch Úc, trẻ em có quốc tịch Úc theo nguyên tắc huyết thống và nơi sinh; không có quy định yêu cầu trẻ em phải lựa chọn quốc tịch.

Điều 20 và 21 Luật Quốc tịch Úc quy định các điều kiện nhập quốc tịch, trong đó không yêu cầu cá nhân phải thôi quốc tịch gốc.

Đạo luật Quốc tịch Úc 2007, được sửa đổi năm 2024[2]

3.

Ba Lan

Theo khoản 2 Điều 34 Hiến pháp Ba Lan, công dân Ba Lan không thể mất quốc tịch Ba Lan trừ khi họ tự từ bỏ quốc tịch.

Theo Điều 14 Luật Quốc tịch Ba Lan, trẻ vị thành niên có quốc tịch Ba Lan từ khi sinh ra nếu ít nhất cha hoặc mẹ là công dân Ba Lan; không có quy định bắt buộc trẻ em lựa chọn quốc tịch.

Chương 3 Luật Quốc tịch Ba Lan quy định các điều kiện, thủ tục nhập quốc tịch Ba Lan; không yêu cầu cá nhân thôi quốc tịch hiện tại.

Hiến pháp Ba Lan[3]; Luật Quốc tịch Ba Lan 2009[4]

4.

Bỉ

- Theo Điều 22 Luật Quốc tịch Bỉ, công dân Bỉ đủ 18 tuổi có quyền tuyên bố thôi quốc tịch Bỉ; không có quy định về việc mất quốc tịch do nhập, trở lại quốc tịch nước khác.

- Theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp Bỉ, một người có thể có hai quốc tịch hoặc nhiều quốc tịch. Trường hợp này bao gồm: người Bỉ trưởng thành (trên 18 tuổi), kể từ khi Luật Quốc tịch năm 2006 cho phép quyền có nhiều hơn một quốc tịch, sẽ không còn mất quốc tịch Bỉ sau khi tự nguyện nhập quốc tịch nước khác.

- Theo Điều 8 Luật Quốc tịch Bỉ, trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Bỉ có cha hoặc mẹ là công dân Bỉ thì có quốc tịch Bỉ, không có quy định bắt buộc trẻ em lựa chọn quốc tịch.

- Theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp Bỉ, một người có thể có hai quốc tịch hoặc nhiều quốc tịch. Trường hợp này bao gồm: người Bỉ tự động nhận được quốc tịch khác, bao gồm trẻ em sinh ra có quốc tịch Bỉ do cha hoặc mẹ là công dân Bỉ và quốc tịch của cha hoặc mẹ là công dân nước khác.

- Điều 19 Luật Quốc tịch Bỉ quy định các điều kiện nhập quốc tịch Bỉ, trong đó không yêu cầu người nước ngoài từ bỏ quốc tịch hiện tại.

- Theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp Bỉ, một người có thể có hai quốc tịch hoặc nhiều quốc tịch. Trường hợp này bao gồm: người nước ngoài đã tự nguyện nhập quốc tịch Bỉ và vẫn giữ quốc tịch ban đầu.

- Luật Quốc tịch Bỉ 1984[5]

- Hướng dẫn của Bộ Tư pháp Bỉ[6]

5.

Canada

Phần II Luật Quốc tịch Canada không quy định việc mất quốc tịch do nhập, trở lại quốc tịch nước khác. Theo Điều 9(1) Luật Quốc tịch, công dân Canada có quyền tự nguyện thôi quốc tịch Canada nếu đã hoặc sẽ có quốc tịch khác, bằng cách nộp đơn xin từ bỏ lên Bộ Di trú, Tị nạn và Quốc tịch.

Theo Điều 3(1) Luật Quốc tịch Canada, trẻ sinh ra trên lãnh thổ Canada hoặc có cha hoặc mẹ là công dân Canada thì có quốc tịch Canada. Không có quy định yêu cầu trẻ phải lựa chọn quốc tịch.

Điều 5(1) Luật Quốc tịch Canada quy định các điều kiện xin nhập quốc tịch Canada, trong đó không yêu cầu phải thôi quốc tịch gốc.

Đạo luật Quốc tịch 1977, sửa đổi đến năm 2024[7]

6.

Đức

Trang web chính thức của Bộ Nội vụ Đức về Luật Hiện đại hóa Pháp luật về Quốc tịch nêu rõ: “Luật quốc tịch mới của Đức cho phép sở hữu nhiều quốc tịch.”

Trang web chính thức của Bộ Nội vụ Đức về Luật Hiện đại hóa Pháp luật về Quốc tịch nêu rõ: “Tất cả trẻ em sinh ra tại Đức có cha mẹ là người nước ngoài giờ đây sẽ được cấp quốc tịch Đức và có thể giữ quốc tịch của cha mẹ nếu ít nhất một trong hai cha mẹ đã sống hợp pháp tại Đức hơn năm năm và có quyền cư trú vĩnh viễn.”

Trang web chính thức của Bộ Nội vụ Đức về Luật Hiện đại hóa Pháp luật về Quốc tịch nêu rõ: “Luật quốc tịch mới của Đức cho phép sở hữu nhiều quốc tịch. Các quy tắc để trở thành công dân nhập tịch rất rõ ràng và dễ hiểu….”

- Luật Hiện đại hóa Pháp luật về Quốc tịch, có hiệu lực từ ngày 27/6/2024[8]

- Hướng dẫn của Bộ Nội vụ Đức về Luật Hiện đại hóa Pháp luật về Quốc tịch[9]

7.

Hoa Kỳ

Điều 349 Đạo luật Nhập cư và Quốc tịch Hoa Kỳ quy định: việc từ bỏ quốc tịch là theo nguyện vọng cá nhân của công dân.

Điều 301, 319 Đạo luật Nhập cư và Quốc tịch Hoa Kỳ quy định: trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Hoa Kỳ hoặc có cha/mẹ là công dân Hoa Kỳ thì trẻ em có quốc tịch Hoa Kỳ và quốc tịch gốc; không có quy định cá nhân phải từ bỏ quốc tịch khi đến tuổi trưởng thành.

Điều 311-312 Đạo luật Nhập cư và Quốc tịch Hoa Kỳ quy định các điều kiện nhập quốc tịch Hoa Kỳ, trong đó không yêu cầu cá nhân phải từ bỏ quốc tịch gốc.

Đạo luật Nhập cư và Quốc tịch Hoa Kỳ 1952[10]

8.

Nga

Việc một công dân Liên bang Nga có được quốc tịch của một quốc gia nước ngoài không kéo theo việc chấm dứt quốc tịch Liên bang Nga.

Điều 13(1)(3) Luật Quốc tịch Liên bang Nga quy định: trẻ em có quốc tịch Liên bang Nga nếu có cha hoặc mẹ là công dân Liên bang Nga, người còn lại là người nước ngoài, nếu trẻ được sinh ra trên lãnh thổ Liên bang Nga. Không có quy định nào yêu cầu trẻ em phải lựa chọn quốc tịch.

Theo luật pháp Liên bang Nga, công dân nước ngoài khi nhập quốc tịch Liên bang Nga không phải từ bỏ quốc tịch mà họ đang có.

- Công hàm số 2401 ngày 30/8/2025 của Đại sứ quán Liên bang Nga tại Việt Nam.

- Luật Liên bang “Về quốc tịch Liên bang Nga” ký ngày 28/4/2023.[11]

9.

Pháp

Điều 23 Bộ luật Dân sự Pháp quy định: bất kỳ người trưởng thành nào mang quốc tịch Pháp, thường trú ở nước ngoài, tự nguyện nhập quốc tịch nước ngoài chỉ mất quốc tịch Pháp nếu họ tuyên bố rõ ràng.

Theo Điều 18 Bộ luật Dân sự Pháp, trẻ em có cha hoặc mẹ là công dân Pháp thì có quốc tịch Pháp; không có quy định yêu cầu trẻ em lựa chọn quốc tịch.

Điều 21 Bộ luật Dân sự Pháp quy định các điều kiện nhập quốc tịch Pháp, trong đó không yêu cầu người nước ngoài phải thôi quốc tịch hiện tại.

Bộ luật Dân sự Pháp[12]

10.

Cộng hoà Séc

Trang web của Bộ Nội vụ Séc thông báo liên quan đến Đạo luật về Quốc tịch 2013 nêu rõ: “Đạo luật về Quốc tịch mới (2013) hoàn toàn từ bỏ nguyên tắc một quốc tịch và cho phép khả năng tồn tại hai quốc tịch (nhiều quốc tịch).”

Điều 4, 5 Đạo luật về Quốc tịch 2013 quy định trẻ em có quốc tịch CH Séc theo nguyên tắc huyết thống và nơi sinh; không có quy định yêu cầu trẻ em phải lựa chọn quốc tịch.

Trang web của Bộ Nội vụ Séc thông báo liên quan đến Đạo luật về Quốc tịch 2013 nêu rõ: “Đạo luật về Quốc tịch mới (2013) hoàn toàn từ bỏ nguyên tắc một quốc tịch và cho phép khả năng tồn tại hai quốc tịch (nhiều quốc tịch).”

- Đạo luật về Quốc tịch của CH Séc[13]

- Trang web của Bộ Nội vụ Séc thông báo liên quan đến Đạo luật về Quốc tịch 2013[14]

11.

Thuỵ Sĩ

Theo Điều 37 Đạo luật Liên bang về Quốc tịch Thụy Sĩ, công dân có quyền yêu cầu thôi quốc tịch Thụy Sĩ nếu họ không cư trú ở Thụy Sĩ và đã có hoặc sẽ có quốc tịch khác.

Theo Điều 1 Đạo luật Liên bang về Quốc tịch Thụy Sĩ, trẻ em sinh ra có quốc tịch Thụy Sĩ theo nguyên tắc huyết thống; không có quy định bắt buộc trẻ em phải lựa chọn quốc tịch.

Điều 9-25 Đạo luật Liên bang về Quốc tịch Thụy Sĩ quy định các điều kiện nhập quốc tịch Thụy Sĩ, trong đó không yêu cầu người nước ngoài từ bỏ quốc tịch hiện tại.

Đạo luật Liên bang về Quốc tịch Thụy Sĩ[15]

II

Các Quốc gia/Vùng lãnh thổ có quy định pháp luật được hiểu là không phù hợp với việc công dân giữ quốc tịch nước đó khi xin nhập/xin trở lại quốc tịch Việt Nam hoặc trẻ em được giữ quốc tịch nước đó khi thực hiện ghi vào sổ hộ tịch việc khai sinh và lựa chọn quốc tịch Việt Nam

12.

Ấn Độ

Theo Điều 9 Luật Quốc tịch Ấn Độ, công dân Ấn Độ có quốc tịch nước khác thì tự động mất quốc tịch Ấn Độ.

Theo Điều 4(1A) Luật Quốc tịch Ấn Độ, trẻ giữ song tịch phải từ bỏ một quốc tịch trong vòng 6 tháng kể từ khi tròn 18 tuổi nếu muốn giữ quốc tịch Ấn Độ. Nếu không thực hiện việc lựa chọn này, quốc tịch Ấn Độ sẽ tự động chấm dứt.

Theo Điều 6 và Phụ lục 3 Luật Quốc tịch Ấn Độ, một trong các điều kiện để nhập quốc tịch Ấn Độ là cá nhân phải từ bỏ quốc tịch hiện tại.

Luật Quốc tịch Ấn Độ năm 1955 (sửa đổi năm 2019)[16]

13.

Belarus

Điều 19 Luật Quốc tịch Belarus quy định các trường hợp mất quốc tịch Belarus, trong đó không có quy định về việc mất quốc tịch do nhập, trở lại quốc tịch nước khác.

Theo Điều 13 Luật Quốc tịch Belarus, trẻ em sinh ra có quốc tịch Belarus theo nguyên tắc huyết thống và nơi sinh; không có quy định bắt buộc trẻ em lựa chọn quốc tịch.

Điều 14 Luật Quốc tịch Belarus quy định một công dân nước ngoài hoặc người không quốc tịch có thể được nhập quốc tịch Belarus nếu có đơn yêu cầu, với điều kiện người đó từ bỏ quốc tịch nước ngoài.

Luật Quốc tịch Belarus 2002 (sửa đổi năm 2020)[17]

14.

Hàn Quốc

Theo Điều 15 Luật Quốc tịch Hàn Quốc, công dân Hàn Quốc tự nguyện nhập quốc tịch nước ngoài sẽ mất quốc tịch Hàn Quốc tại thời điểm nhập quốc tịch nước ngoài.

Theo Điều 11-2 và Điều 12(1) Luật Quốc tịch Hàn Quốc, trẻ em có thể có đồng thời quốc tịch Hàn Quốc và quốc tịch nước ngoài, và được giữ song tịch đến 22 tuổi. Khi đến 22 tuổi phải chọn một quốc tịch hoặc tuyên thệ không sử dụng quốc tịch nước ngoài tại Hàn Quốc để được giữ cả hai quốc tịch.

Theo Điều 10 Luật Quốc tịch Hàn Quốc, người nước ngoài đã nhập quốc tịch Hàn Quốc phải từ bỏ quốc tịch nước ngoài trong thời hạn một năm kể từ ngày nhập quốc tịch Hàn Quốc; trừ một số trường hợp người nhập tịch diện đặc biệt (nhân tài, chuyên gia, kết hôn với công dân Hàn Quốc), nếu tuyên thệ không sử dụng quốc tịch nước ngoài tại Hàn Quốc.

Luật Quốc tịch Hàn Quốc, sửa đổi đến năm 2022[18]

15.

Indonesia

Điều 23 Luật Quốc tịch Indonesia: công dân mất quốc tịch khi tự nguyện nhập quốc tịch nước khác; có hộ chiếu hoặc giấy tờ tương đương hộ chiếu nước ngoài hoặc giấy tờ tùy thân hợp lệ của một quốc gia khác.

Điều 6 Luật Quốc tịch Indonesia: khi đủ 18 tuổi hoặc khi kết hôn, cá nhân phải chọn 1 trong 2 quốc tịch.

Điều 9(f) Luật Quốc tịch Indonesia quy định một trong các điều kiện nhập quốc tịch Indonesia là cá nhân phải từ bỏ các quốc tịch khác.

Luật số 12.2006 về Quốc tịch Indonesia[19]

16.

Lào

Điều 3 Luật Quốc tịch Lào quy định: Lào không cho phép công dân mang nhiều quốc tịch.

Điều 3 Luật Quốc tịch Lào quy định: Lào không cho phép công dân mang nhiều quốc tịch.

Ngoài ra, theo Điều 11 Luật Quốc tịch Lào, trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Lào, có cha hoặc mẹ là công dân Lào còn người kia là người nước ngoài, thì có quốc tịch Lào.

Theo Điều 14 Luật Quốc tịch Lào, một trong các điều kiện để nhập quốc tịch Lào là cá nhân phải đồng ý từ bỏ quốc tịch hiện tại.

Luật Quốc tịch Lào 2004[20]

17.

Nhật Bản

Việc mất quốc tịch sẽ được thực hiện theo điều 13 Luật Quốc tịch Nhật Bản như sau:

(1) Công dân Nhật Bản có quốc tịch nước ngoài thể từ bỏ quốc tịch Nhật Bản bằng cách thông báo cho Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

(2) Người đã thông báo theo khoản trên sẽ mất quốc tịch Nhật Bản tại thời điểm thông báo.

Theo Điều 14 Luật Quốc tịch Nhật Bản, trẻ lai có thể mang quốc tịch Nhật Bản và quốc tịch nước ngoài đến trước khi tròn 22 tuổi; theo đó, phải chọn 01 quốc tịch trước khi đủ 22 tuổi (hoặc trong vòng 2 năm sau ngày có quốc tịch thứ hai nếu có quốc tịch đó sau khi đủ 20 tuổi). Nếu không chọn quốc tịch thì có thể mất quốc tịch Nhật Bản.

Điều 5(5) Luật Quốc tịch Nhật Bản quy định các điều kiện để nhập quốc tịch Nhật Bản, trong đó yêu cầu cá nhân không có quốc tịch nước khác hoặc việc nhập quốc tịch Nhật Bản sẽ dẫn đến mất quốc tịch nước khác.

Luật Quốc tịch Nhật Bản, sửa đổi đến năm 2008[21]

18.

Singapore

Theo Điều 134 và 135 Hiến pháp Singapore, đối với công dân có quốc tịch nước ngoài, Chính phủ Singapore có thể, bằng quyết định, tước quốc tịch Singapore nếu người đó có được quốc tịch nước ngoài hoặc thực hiện quyền công dân nước ngoài.

Theo Điều 122(4) Hiến pháp Singapore, trẻ em được phép giữ song tịch cho đến 21 tuổi, sau đó sẽ phải từ bỏ một trong hai quốc tịch.

Điều 127 Hiến pháp Singapore quy định các điều kiện nhập quốc tịch Singapore, nhưng không có quy định bắt buộc cá nhân thôi quốc tịch gốc.

Hiến pháp Cộng hòa Singapore, s ửa đổi năm 2020[22]

19.

Tây Ban Nha

Theo khoản 1 Điều 24 Bộ luật Dân sự Tây Ban Nha, công dân Tây Ban Nha trưởng thành thường trú ở nước ngoài tự nguyện có quốc tịch nước khác sẽ mất quốc tịch Tây Ban Nha.[23]

Theo khoản 1 Điều 24 Bộ luật Dân sự Tây Ban Nha, trẻ em mang song tịch/đa quốc tịch không cư trú ở Tây Ban Nha và chỉ sử dụng quốc tịch nước ngoài thì sẽ mất quốc tịch Tây Ban Nha khi đến tuổi trưởng thành.[24]

Theo Điều 23 Bộ luật Dân sự Tây Ban Nha, điều kiện để việc nhập quốc tịch Tây Ban Nha có hiệu lực là cá nhân phải tuyên bố từ bỏ quốc tịch gốc.[25]

Bộ luật Dân sự Tây Ban Nha 2013[26]

20.

Trung Quốc

Theo Điều 9 Luật Quốc tịch Trung Quốc, công dân Trung Quốc đã được nhập quốc tịch nước ngoài sẽ tự động mất quốc tịch Trung Quốc.

Theo Điều 3 Luật Quốc tịch Trung Quốc, Trung Quốc không công nhận đa quốc tịch đối với bất kỳ công dân Trung Quốc nào.

Theo Điều 8, 13 Luật Quốc tịch Trung Quốc, người nước ngoài được nhập/trở lại quốc tịch Trung Quốc thì phải từ bỏ quốc tịch nước ngoài.

Luật Quốc tịch Trung Quốc[27]

 

 

(1) Thông tin này được đăng tải và cập nhật tại cổng thông tin điện tử Bộ Ngoại giao (mofa.gov.vn), mục Tin lãnh sự - Thông tin đi lại.

[1] British Nationality Act <https://www.legislation.gov.uk/ukpga/1981/61>

[2] Australian Citizenship Act 2007, includes amendments: Act No. 39, 2024 <https://www.legislation.gov.au/C2007A00020/latest/text>

[3] The Constitution of the Republic of Poland, 2 April 1997, as published in Dziennik Ustaw No. 78, item 483 <https://www.sejm.gov.pl/prawo/konst/angielski/kon1.htm>

[4] Law of 2 April 2009 on Polish Citizenship (Official Journal of the Republic of Poland, 14 February 2012 item 161) <https://data.globalcit.eu/NationalDB/docs/POL_Citizenship%20Act%202009_as%20enacted_ENGLISH.pdf>

[5] Code de la nationalité belge <https://www.ejustice.just.fgov.be/cgi_loi/change_lg.pl?language=fr&la=F&cn=1984062835&table_name=loi>

[6] https://justice.belgium.be/en/themes_and_files/children_and_youth/citizenship/dual_citizenship

[7] Citizenship Act 1977 (R.S.C. 1985, c. C-29) <https://laws-lois.justice.gc.ca/eng/acts/c-29/>

[8] “Gesetz zur Modernisierung des Staatsangehörigkeitsrechts”, < https://www.recht.bund.de/bgbl/1/2024/104/VO.html>

[9] Federal Ministry of the Interior, New law on nationality takes effect, 27 June 2024 <https://www.bmi.bund.de/SharedDocs/kurzmeldungen/EN/2024/06/mod- staatsangehoerigkeitsrecht.html>

[10] Immigration and Nationality Act, United States Code (U.S.C.) Title 8 <https://www.uscis.gov/laws-and-policy/legislation/immigration-and-nationality-act>

[11] Федеральный закон от 28.04.2023 г. № 138-ФЗ <kremlin.ru/acts/bank/49216>

[12] Code civil <https://www.legifrance.gouv.fr/codes/texte_lc/LEGITEXT000006070721/>

[13] Act 186/2013 of July 11/2013 <https://mzv.gov.cz/file/2400342/Citizenship_Act_No._186_2013_Sb._o_statnim_obcanstvi_CR.pdf>

[...]
0

CHỦ QUẢN: Công ty TNHH THƯ VIỆN PHÁP LUẬT

Mã số thuế: 0315459414, cấp ngày: 04/01/2019, nơi cấp: Sở Kế hoạch và Đầu tư TP HCM.

Đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Tường Vũ

GP thiết lập trang TTĐTTH số 30/GP-TTĐT, do Sở TTTT TP.HCM cấp ngày 15/06/2022.

Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm số: 4639/2025/10/SLĐTBXH-VLATLĐ cấp ngày 25/02/2025.

Địa chỉ trụ sở: P.702A, Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, phường Phú Nhuận, TP. HCM

THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
...loại rủi ro pháp lý, nắm cơ hội làm giàu...
Thư Viện Nhà Đất
Thư Viện Nhà Đất
...hiểu pháp lý, rõ quy hoạch, giao dịch nhanh...