Từ khóa gợi ý:
Không tìm thấy từ khóa phù hợp
Việc làm có thể bạn quan tâm
Không tìm thấy việc làm phù hợp

Công văn 1476/VKSTC-V9 năm 2026 giải đáp vướng mắc về kiểm sát việc giải quyết vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình do Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành

Số hiệu 1476/VKSTC-V9
Ngày ban hành 23/03/2026
Ngày có hiệu lực 23/03/2026
Loại văn bản Công văn
Cơ quan ban hành Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Người ký Đỗ Mạnh Bổng
Lĩnh vực Thủ tục Tố tụng

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
TỐI CAO
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 1476/VKSTC-V9
V/v Giải đáp vướng mắc về kiểm sát việc giải quyết vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình

Hà Nội, ngày 23 tháng 3 năm 2026

 

Kính gửi:

- Các Viện Phúc thẩm 1, 2, 3;
- Các VKSND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
- Các VKSND khu vực

Thực hiện Thông báo số 06/TB-VKSTC ngày 15/01/2026 về Kết luận của Đồng chí Nguyễn Đức Thái, Phó Viện trưởng VKSND tối cao tại Hội nghị “Sơ kết thực hiện Chỉ thị số 07/CT-VKSTC ngày 06/8/2021 và Chỉ thị số 05/CT-VKSTC ngày 18/10/2022 của Viện trưởng VKSND tối cao”, Vụ Kiểm sát án dân sự (Vụ 9) đã chủ trì, phối hợp với Vụ Pháp chế (Vụ 14) VKSND tối cao trả lời các câu hỏi của VKSND các cấp về công tác kiểm sát việc giải quyết vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình. Được sự đồng ý của Đồng chí Nguyễn Đức Thái, Phó Viện trưởng VKSND tối cao, Vụ 9 trả lời như sau:

Câu hỏi 1. Đối với vụ án tranh chấp chia di sản thừa kế là bất động sản thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nơi cư trú của bị đơn hay Tòa án nơi có di sản thừa kế[1]?

Trả lời:

Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025 (BLTTDS) về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ thì “Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết”.

Vụ án tranh chấp chia di sản thừa kế là bất động sản là vụ án có đối tượng tranh chấp là bất động sản. Do đó, vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nơi có bất động sản (di sản thừa kế) đang tranh chấp.

Trường hợp di sản thừa kế gồm nhiều bất động sản ở nhiều địa phương thì áp dụng quy định về lựa chọn Toà án có thẩm quyền theo BLTTDS.

Câu hỏi 2. Trường hợp người kháng cáo không có quyền kháng cáo theo Điều 271 BLTTDS mà Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận đơn kháng cáo và chuyển hồ sơ lên Toà án cấp phúc thẩm thì Tòa án cấp phúc thẩm xử lý như thế nào (trước và sau khi Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm)[2]?

Trả lời:

- Khi Tòa án cấp phúc thẩm nhận đơn kháng cáo và hồ sơ do Tòa án cấp sơ thẩm chuyển đến mà phát hiện người kháng cáo không có quyền kháng cáo trước khi thụ lý vụ án để xét xử phúc thẩm thì Tòa án cấp phúc thẩm ban hành văn bản trả lại đơn kháng cáo cho người kháng cáo theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 274 của BLTTDS,

- Sau khi đã thụ lý vụ án để xét xử phúc thẩm đến trước khi Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, nếu phát hiện người kháng cáo không có quyền kháng cáo thì Tòa án cấp phúc thẩm ban hành quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo đó.

- Sau khi Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm hoặc tại phiên toà mới phát hiện người kháng cáo không có quyền kháng cáo thì Hội đồng xét xử phúc thẩm ban hành quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo đó theo quy định tại khoản 2 Điều 289 BLTTDS.

Câu hỏi 3. Vợ chồng ông T, bà P được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2008. Năm 2011, ông T, bà P ly hôn. Quyết định công nhận thuận tình ly hôn thể hiện ông T, bà P không có tài sản chung vợ chồng. Năm 2023, ông T chết, bà P khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung là thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên. Tòa án căn cứ quyết định công nhận thuận tình ly hôn để xác định thửa đất không phải là tài sản chung vợ chồng của ông T, bà P có đúng không?[3]

Trả lời:

Trường hợp này, cần xem xét trong vụ việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn giữa ông T và bà P vào năm 2011, các bên có yêu cầu gì về tài sản chung không và kết quả Toà án giải quyết yêu cầu đó (nếu có). Nếu Quyết định công nhận thuận tình ly hôn ghi nội dung vợ chồng không có tài sản chung chỉ có ý nghĩa ghi nhận lời trình bày của các bên, thể hiện tại thời điểm ly hôn, ông T và bà P không có tài sản chung (không có tài sản hoặc có tài sản nhưng không yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng). Đây chỉ là một trong những chứng cứ để Toà án xem xét khi giải quyết vụ án sau này. Việc Tòa án giải quyết vụ án sau chỉ căn cứ vào nội dung quyết định công nhận thuận tình ly hôn để xác định thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông T, bà P trước khi ly hôn không phải là tài sản chung vợ chồng của ông T, bà P là không đúng, mà phải xem xét nguồn gốc, thời điểm hình thành tài sản, nếu tạo lập trong thời kỳ hôn nhân và đứng tên 2 vợ chồng thì phải xác định đây là tài sản chung theo Điều 33, 34 Luật Hôn nhân và gia đình.

Câu hỏi 4. Di sản của ông/bà đã chết chưa chia thừa kế thì cháu có quyền khởi kiện yêu cầu chia thừa kế di sản của ông/bà không trong trường hợp bố/mẹ cháu đã chết (tương tự, con dâu có quyền khởi kiện yêu cầu chia thừa kế di sản của bố/mẹ chồng trong trường hợp người chồng đã chết không)[4]?

Trả lời:

Khoản 2 Điều 68, Điều 186 BLTTDS quy định cá nhân cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm thì có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp đó.

Bố (mẹ) của cháu là người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông/bà nội (ông/bà ngoại). Trường hợp bố (mẹ) của cháu chết trước ông (bà) thì cháu là người được hưởng thừa kế thế vị theo quy định của pháp luật nên cháu có quyên khởi kiện yêu cầu chia thừa kế di sản của ông (bà).

Trường hợp người chồng chết trước bố/mẹ chồng thì người con dâu không có quyền hưởng thừa kế thế vị đối với di sản của bố/mẹ chồng nên người con dâu không có quyền khởi kiện yêu cầu chia di sản của bố/mẹ chồng, trừ trường hợp đại diện cho con chưa thành niên được hưởng thừa kế thế vị.

Trường hợp bố (mẹ) của cháu chết sau ông (bà) hoặc người chồng chết sau bố/mẹ chồng thì bố (mẹ) của cháu, người chồng vẫn là người có quyền hưởng di sản thừa kế từ ông (bà) hoặc bố/mẹ chồng đã chết. Việc bố (mẹ) của cháu và người chồng đã chết không làm mất đi tư cách người thừa kế của họ (Điều 613 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định người thừa kế là cá nhân là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế). Do đó, người cháu, người con dâu trong trường hợp này có quyền hưởng di sản của bố (mẹ) cháu, người chồng chính là phần di sản mà bố (mẹ) cháu, người chồng được hưởng từ ông (bà), bố/mẹ chồng. Vì vậy, người cháu, người con dâu có quyền khởi kiện yêu cầu chia di sản của ông (bà), bố/mẹ chồng để được hưởng phần di sản mà bố (mẹ) cháu, người chồng được hưởng.

Câu hỏi 5. Trong vụ án hôn nhân gia đình nguyên đơn không yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng, bị đơn có yêu cầu phản tố chia tài sản chung. Toà án xác định tài sản tranh chấp không phải là tài sản chung vợ chồng. Trường hợp này nghĩa vụ chịu án phí được xác định như thế nào (theo khoản 5 Điều 26 hay điểm b khoản 5 Điều 27 hay điểm a khoản 7 Điều 27 của Nghị quyết số 226/2016/UBTVQH14)[5].

Trả lời:

Khoản 5 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định “Bị đơn có yêu cầu phản tố phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu phản tố không được Tòa án chấp nhận”.

Điểm b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định: “Các đương sự trong vụ án hôn nhân và gia đình có tranh chấp về việc chia tài sản chung của vợ chồng thì ngoài việc chịu án phí dân sự sơ thẩm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 24 của Nghị quyết này (án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án dân sự không có giá ngạch), còn phải chịu án phí đối với phần tài sản có tranh chấp như đối với vụ án dân sự có giá ngạch tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được chia”.

Điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định: “Khi các bên đương sự không xác định được phần tài sản của mình hoặc mỗi người xác định phần tài sản của mình trong khối tài sản chung là khác nhau và có một trong các bên yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung đó thì mỗi bên đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo mức tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được chia, được hưởng trong khối tài sản chung. Đối với phần Tòa án bác đơn yêu cầu thì người yêu cầu chia tải sản chung không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trường hợp Tòa án xác định tài sản chung mà đương sự yêu cầu chia không phải là tài sản của họ thì đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch”.

Các quy định nêu trên quy định nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm của người có yêu cầu không được Tòa án chấp nhận là khác nhau. Tuy nhiên, điểm b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định cụ thể về án phí trong việc yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng trong vụ án hôn nhân và gia đình, do đó, cần áp dụng quy định này để giải quyết đối với trường hợp nêu trong câu hỏi, nếu quy định này chưa đầy đủ, chưa rõ thì áp dụng quy định tại điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 là quy định chung về nghĩa vụ chịu án phí trong trường hợp yêu cầu chia tài sản chung (không phân biệt tài sản chung vợ chồng hay loại tài sản chung khác).

Từ nguyên tắc áp dụng pháp luật nêu trên, có thể xác định bị đơn có yêu cầu phản tố chia tài sản chung vợ chồng nhưng Toà án xác định tài sản tranh chấp không phải là tài sản chung vợ chồng thì bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch.

[...]
0

CHỦ QUẢN: Công ty TNHH THƯ VIỆN PHÁP LUẬT

Mã số thuế: 0315459414, cấp ngày: 04/01/2019, nơi cấp: Sở Kế hoạch và Đầu tư TP HCM.

Đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Tường Vũ

GP thiết lập trang TTĐTTH số 30/GP-TTĐT, do Sở TTTT TP.HCM cấp ngày 15/06/2022.

Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm số: 4639/2025/10/SLĐTBXH-VLATLĐ cấp ngày 25/02/2025.

Địa chỉ trụ sở: P.702A, Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, phường Phú Nhuận, TP. HCM

THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
...loại rủi ro pháp lý, nắm cơ hội làm giàu...
Thư Viện Nhà Đất
Thư Viện Nhà Đất
...hiểu pháp lý, rõ quy hoạch, giao dịch nhanh...