Từ khóa gợi ý:
Không tìm thấy từ khóa phù hợp
Việc làm có thể bạn quan tâm
Không tìm thấy việc làm phù hợp

Công văn 10740/BNNMT-QLĐĐ năm 2025 trả lời kiến nghị của cử tri gửi đến Quốc hội trước Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV do Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành

Số hiệu 10740/BNNMT-QLĐĐ
Ngày ban hành 23/12/2025
Ngày có hiệu lực 23/12/2025
Loại văn bản Công văn
Cơ quan ban hành Bộ Nông nghiệp và Môi trường
Người ký Trần Đức Thắng
Lĩnh vực Bộ máy hành chính

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ MÔI TRƯỜNG
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 10740/BNNMT-QLĐĐ
V/v trả lời kiến nghị của cử tri gửi đến Quốc hội trước Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV

Hà Nội, ngày 23 tháng 12 năm 2025

 

Kính gửi:

- Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Hà Tĩnh;
- Ủy ban Dân nguyện và Giám sát của Quốc hội;

Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhận được kiến nghị của cử tri tỉnh Hà Tĩnh do Ủy ban Dân nguyện và Giám sát của Quốc hội chuyển đến tại Văn bản số 1691/UBDNGS15 ngày 28/10/2025 về việc chuyển kiến nghị của cử tri gửi tới trước Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV. Bộ Nông nghiệp và Môi trường trân trọng cảm ơn Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Hà Tĩnh và Ủy ban Dân nguyện và Giám sát của Quốc hội đã gửi ý kiến kiến nghị của cử tri tỉnh Hà Tĩnh đến Bộ.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường xin báo cáo Đoàn đại biểu Quốc hội và cử tri tỉnh Hà Tĩnh như sau:

1. Câu số 16: Đề nghị quy định rõ căn cứ pháp lý xác định dự án đầu tư chậm tiến độ sử dụng đất quá 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư theo quy định tại điểm e, khoản 2, Điều 31 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP ngày 30/7/2024 của Chính phủ (được bổ sung tại điểm b, khoản 2, Điều 4 Nghị định 226/2025/NĐ-CP): “...chủ đầu tư chưa hoàn thành đầu tư xây dựng toàn bộ các hạng mục công trình theo dự án đã được phê duyệt” là Quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hay dự án đầu tư do nhà đầu tư phê duyệt hay quy hoạch chi tiết xây dựng/quy hoạch tổng mặt bằng sử dụng đất do cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

Về kiến nghị này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xin báo cáo như sau:

Theo quy định tại khoản 8 Điều 81 Luật Đất đai năm 2024; khoản 2 Điều 4 Nghị định số 226/2025/NĐ-CP ngày 15/8/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 31 Nghị định số 102/2024/NĐ-CP ngày 30/7/2024 của Chính phủ quy định: Trường hợp dự án đầu tư chậm tiến độ sử dụng đất 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa thì việc gia hạn sử dụng đất không quá 24 tháng được áp dụng cho toàn bộ diện tích đất thực hiện dự án; trường hợp dự án được giao đất, cho thuê đất theo tiến độ thì việc gia hạn sử dụng đất không quá 24 tháng được áp dụng đối với từng phần diện tích đất theo quyết định giao đất, cho thuê đất.

Như vậy, theo quy định trên, căn cứ để xác định dự án đầu tư chậm tiến độ sử dụng đất quá 24 tháng là tiến độ ghi trong dự án đầu tư, được chấp thuận, phê duyệt, thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư.

2. Câu số 17: Tại điểm a, b và d, khoản 3, Điều 10 Nghị định số 151/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ chưa quy định thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, cơ quan có trách nhiệm theo dõi kiểm tra giám sát việc sử dụng đất thực hiện dự án đối với trường hợp dự án đầu tư có sử dụng đất thực hiện trên ranh giới hành chính của 02 địa bàn cấp xã. Đề nghị trình Chính phủ xem xét, bổ sung để địa phương có căn cứ tổ chức thực hiện.

Về kiến nghị này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xin báo cáo như sau:

Tại điểm g khoản 2 Điều 11 Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định: “g) Những vấn đề liên quan đến phạm vi từ 02 đơn vị hành chính cấp xã trở lên thì thuộc thẩm quyền giải quyết của chính quyền địa phương cấp tỉnh, những vấn đề liên quan đến phạm vi từ 02 đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên thì thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan nhà nước ở trung ương, trừ trường hợp luật, nghị quyết của Quốc hội có quy định khác.

Căn cứ tình hình thực tiễn, cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương giao cho chính quyền địa phương của một trong các đơn vị hành chính cấp tỉnh có liên quan chủ trì giải quyết những vấn đề liên quan đến phạm vi từ 02 đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên; chính quyền địa phương cấp tỉnh giao cho chính quyền địa phương của một trong các đơn vị hành chính cấp xã có liên quan chủ trì giải quyết những vấn đề liên quan đến phạm vi từ 02 đơn vị hành chính cấp xã trở lên bảo đảm phát huy hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn.”

Như vậy, tại thời điểm pháp luật đất đai chưa có quy định về thẩm quyền giao đất, cho thuê đất đối với trường hợp khu đất của cùng dự án đầu tư nằm trên địa bàn từ 02 đơn vị hành chính cấp xã trở lên, đề nghị chính quyền địa phương cấp tỉnh căn cứ quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương để xem xét xử lý nội dung nêu trên theo thẩm quyền.

Hiện nay, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang tiếp tục rà soát, tham mưu sửa đổi, bổ sung pháp luật về đất đai trong thời gian tới, trong đó có nội dung liên quan đến thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất cho tổ chức để bảo đảm đầy đủ khung pháp lý triển khai trong thực tế. Bộ Nông nghiệp và Môi trường xin thông tin đến cử tri để tiếp tục theo dõi, đóng góp ý kiến hoàn thiện pháp luật về đất đai.

3. Câu số 20: Đề nghị hướng dẫn thống nhất việc xác định diện tích đất chậm tiến độ sử dụng để tính tiền nộp bổ sung theo khoản 8 Điều 81 Luật Đất đai năm 2024; đề xuất thực hiện theo hướng chỉ tính tiền nộp bổ sung đối với phần diện tích đất chậm tiến độ, chưa xây dựng công trình trong thời gian gia hạn, không tính đối với toàn bộ diện tích dự án đã hoàn thành hoặc đã chuyển nhượng đúng quy định.

Về kiến nghị này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xin báo cáo như sau:

Tại khoản 8 Điều 81 Luật Đất đai năm 2024 quy định đối với trường hợp không đưa đất vào sử dụng hoặc chậm tiến độ sử dụng đất so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư thì chủ đầu tư được gia hạn sử dụng không quá 24 tháng và phải nộp bổ sung cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian được gia hạn.

Tại điểm a khoản 2 Điều 4 Nghị định số 226/2025/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điểm, khoản của Điều 31 của Nghị định số 102/2024/NĐ- CP ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai quy định: Trường hợp dự án đầu tư chậm tiến độ sử dụng đất 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa thì việc gia hạn sử dụng đất không quá 24 tháng được áp dụng cho toàn bộ diện tích đất thực hiện dự án. Trường hợp dự án được giao đất, cho thuê đất theo tiến độ thì việc gia hạn sử dụng đất không quá 24 tháng được áp dụng đối với từng phần diện tích đất theo quyết định giao đất, cho thuê đất.

Việc tính tiền nộp bổ sung khi gia hạn dự án được thực hiện theo quy định tại Điều 15 Nghị định số 103/2024/NĐ-CP của Chính phủ quy định về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; theo đó, khoản tiền bổ sung được tính trên cơ sở diện tích đất được gia hạn sử dụng đất.

4. Câu số 21: Đề nghị hướng dẫn trường hợp dự án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép gia hạn tiến độ sử dụng đất và người sử dụng đất đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính (tiền sử dụng đất, tiền thuê đất) đối với phần diện tích và thời gian được gia hạn, thì được xác định là đã chấp hành xong quyết định, không bị coi là còn hành vi vi phạm pháp luật về đất đai theo khoản 2, Điều 122 Luật Đất đai năm 2024.

Về kiến nghị này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xin báo cáo như sau:

Tại điểm c khoản 2 Điều 122 Luật Đất đai năm 2024 quy định: “c) Không vi phạm quy định của pháp luật về đất đai hoặc có vi phạm quy định của pháp luật về đất đai nhưng đã chấp hành xong quyết định, bản án đã có hiệu lực pháp luật của cơ quan có thẩm quyền tại thời điểm đề nghị giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất. Việc xác định người sử dụng đất vi phạm quy định của pháp luật về đất đai áp dụng đối với tất cả các thửa đất đang sử dụng trên địa bàn cả nước.

Như vậy tại pháp luật về đất đai đã phân định rõ trường hợp không vi phạm quy định của pháp luật về đất đai và trường hợp có vi phạm quy định của pháp luật về đất đai nhưng đã chấp hành xong quyết định, bản án đều bảo đảm điều kiện để được xem xét giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất.

5. Câu số 26: Theo Nghị định số 151/2025/NĐ-CP, hiện không còn Hội đồng tư vấn đăng ký đất đai cấp xã để xác định nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất. Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu hoặc diện tích tăng thêm chủ yếu dựa vào kê khai của người sử dụng đất, dễ dẫn đến thiếu chính xác, gây thất thoát ngân sách. Đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường hướng dẫn, bổ sung cơ chế xác minh nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất để bảo đảm việc cấp giấy đúng thực tế, khách quan.

Về kiến nghị này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường xin báo cáo như sau: Khi tổ chức thực hiện chính quyền địa phương 03 cấp thì nội dung xác nhận nguồn gốc sử dụng đất được quy định do Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện thông qua Hội đồng đăng ký đất đai (Điều 33 và Điều 34 Nghị định số 101/2024/NĐ-CP). Đến nay, để cắt giảm thủ tục hành chính, thì không quy định bắt buộc phải thành lập Hội đồng đăng ký đất đai nữa. Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện việc xác nhận nguồn gốc sử dụng đất theo quy định tại khoản 3 mục II nội dung C phần V của Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 151/2025/NĐ-CP (trong đó đã hướng dẫn xác định nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất theo các giấy tờ mà người dân có).

Việc cấp Giấy chứng nhận lần đầu hoặc diện tích tăng thêm đã có hướng dẫn cụ thể cách thức xác định thời gian và mục đích sử dụng đất theo các giấy tờ quy định tại Nghị định số 151/2025/NĐ-CP như giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 137 của Luật Đất đai; Biên lai nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất; Bản đồ, tài liệu điều tra, đo đạc về đất đai; Giấy tờ về việc kê khai, đăng ký nhà, đất … (điểm b2(ii) khoản 3 mục II nội dung C phần V Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 151/2025/NĐ-CP). Chỉ còn rất ít trường hợp không có hoặc có giấy tờ này nhưng không ghi rõ thời điểm, mục đích sử dụng đất thì mới xác định theo kê khai của người sử dụng đất. Để đảm bảo tính khách quan thì việc này được thực hiện đồng thời kết hợp với việc xác định hiện trạng sử dụng đất. Để làm rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong thực hiện thủ tục hành chính về đất đai thì tại khoản 3 Điều 224 của Luật Đất đai cũng đã quy định người yêu cầu thực hiện thủ tục hành chính về đất đai chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của nội dung kê khai và các giấy tờ trong hồ sơ đã nộp.

Trên đây là các ý kiến của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trân trọng kính gửi Ủy ban Dân nguyện và Giám sát của Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Hà Tĩnh để thông tin tới cử tri. Bộ Nông nghiệp và Môi trường trân trọng cảm ơn và rất mong tiếp tục nhận được sự quan tâm, đồng hành của Đoàn đại biểu Quốc hội và cử tri tỉnh Hà Tĩnh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường./.

 


Nơi nhận:
- Như trên;
- Đoàn Chủ tịch UBTWMTTQ Việt Nam;
- Văn phòng Chính phủ;
- Thường trực HĐND, UBND tỉnh Hà Tĩnh;
- Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Hà Tĩnh;
- Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Hà Tĩnh;
- Thứ trưởng Nguyễn Thị Phương Hoa;
- Vụ Pháp chế (để tổng hợp, theo dõi);
- Văn phòng Bộ (để đăng tải trên Cổng TTĐT của Bộ);
- Lưu: VT, QLĐĐ.

BỘ TRƯỞNG




Trần Đức Thắng

[...]
0

CHỦ QUẢN: Công ty TNHH THƯ VIỆN PHÁP LUẬT

Mã số thuế: 0315459414, cấp ngày: 04/01/2019, nơi cấp: Sở Kế hoạch và Đầu tư TP HCM.

Đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Tường Vũ

GP thiết lập trang TTĐTTH số 30/GP-TTĐT, do Sở TTTT TP.HCM cấp ngày 15/06/2022.

Giấy phép hoạt động dịch vụ việc làm số: 4639/2025/10/SLĐTBXH-VLATLĐ cấp ngày 25/02/2025.

Địa chỉ trụ sở: P.702A, Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, phường Phú Nhuận, TP. HCM

THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
...loại rủi ro pháp lý, nắm cơ hội làm giàu...
Thư Viện Nhà Đất
Thư Viện Nhà Đất
...hiểu pháp lý, rõ quy hoạch, giao dịch nhanh...