Công văn 9682/DON-QLDN1 năm 2026 về thuế giá trị gia tăng do Thuế Thành phố Đồng Nai ban hành
| Số hiệu | 9682/DON-QLDN1 |
| Ngày ban hành | 02/06/2026 |
| Ngày có hiệu lực | 02/06/2026 |
| Loại văn bản | Công văn |
| Cơ quan ban hành | Thành phố Đồng Nai |
| Người ký | Tạ Hoàng Giang |
| Lĩnh vực | Thuế - Phí - Lệ Phí |
|
CỤC THUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 9682/DON-QLDN1 |
Đồng Nai, ngày 02 tháng 6 năm 2026 |
|
Kính gửi: |
Công ty Cổ phần Gỗ MDF VRG
DONGWHA |
Thuế thành phố Đồng Nai nhận được văn bản số 02/2026/CV-VRGDW ngày 23/02/2026 của Công ty Cổ phần Gỗ MDF VRG DONGWHA (viết tắt là Công ty) về việc hướng dẫn áp dụng về thuế suất GTGT đối với nguyên vật liệu củi gỗ. Về vấn đề này, Thuế thành phố Đồng Nai có ý kiến như sau:
- Căn cứ quy định tại Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15 ngày 26/11/2024 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 149/2025/QH15 ngày 11/12/2025)
+ Tại khoản 1 Điều 5 quy định đối tượng không chịu thuế:
“1. Sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu.
Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã mua sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khác thì không phải kê khai, tinh nộp thuế giá trị gia tăng nhưng được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào."
+ Tại điểm d khoản 2 Điều 9 quy định thuế suất 5%:
"d) Sản phẩm cây trồng, rừng trồng (trừ gỗ, măng), chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường, trừ sản phẩm quy định tại khoản 1 Điều 5 của Luật này; "
+ Tại khoản 3 Điều 9 quy định thuế suất 10% :
“3. Mức thuế suất 10% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ không quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, bao gồm cả dịch vụ được các nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam cung cấp cho tổ chức, cá nhân tại Việt Nam qua kênh thương mại điện tử và các nền tảng số."
Căn cứ quy định tại Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thuế GTGT (được sửa đổi bổ sung tại Nghị định số 359/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 của Chính phủ):
+ Tại khoản 3 Điều 9 quy định thuế suất 10%:
“1. Sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu. Trong đó, các sản phẩm chỉ qua sơ chế thông thường là các sản phẩm mới được làm sạch, phơi, sấy khô, bóc vỏ, xay xát, xay vỡ mảnh, nghiền vỡ mảnh, xay bỏ vỏ, xát bỏ vỏ, tách hạt, tách cọng, cắt, xay, đánh bóng hạt, hồ hạt, chia tách ra từng phần, bỏ xương, băm, lột da, nghiền, cán mỏng, ướp muối, đóng hộp kín khí, bảo quản lạnh (ướp lạnh, đông lạnh), bảo quản bằng khí sunfuro, bảo quản theo phương thức cho hóa chất để tránh thối rữa, ngâm trong dung dịch lưu huỳnh hoặc ngâm trong dung dịch bảo quản khác và các hình thức bảo quản thông thường khác.
Trường hợp không xác định được thì Bộ Nông nghiệp và Môi trường có trách nhiệm căn cứ vào quy trình sản xuất sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt do người nộp thuế cung cấp để xác định là sản phẩm chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu theo quy định của pháp luật.
1b. Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã mua sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khác thì không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng nhưng được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.
Trong đó:
a) Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế bán sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường cho doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khác ở khâu kinh doanh thương mại thì không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng.
b) Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế bán sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường cho các đối tượng như hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh và các tổ chức, cá nhân khác thì phải tính thuế giá trị gia tăng theo mức thuế suất 5% quy định tại khoản 3 Điều 19 Nghị định này.
c) Hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và tổ chức kinh tế khác nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp tính trực tiếp khi bán sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường ở khâu kinh doanh thương mại thì tính thuế giá trị gia tăng phải nộp theo doanh thu bằng 1% (tỷ lệ %) nhân với doanh thu.”
+ Tại khoản 3 Điều 9 quy định thuế suất 5%:
“3. Sản phẩm cây trồng, rừng trồng (trừ gỗ, măng), chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường, trừ sản phẩm quy định tại khoản 1 Điều 4 của Nghị định này.”
- Căn cứ Công văn số 4582/BTC-CST ngày 13/4/2026 của Bộ Tài chính về chính sách thuế giá trị gia tăng đối với gỗ sơ chế thông thường.
Căn cứ các quy định nêu trên:
1. Tất cả các sản phẩm từ gỗ công ty nêu tại văn bản hỏi không được áp dụng mức thuế suất 5% theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 9 Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15 và tại khoản 3 Điều 9 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP. Từ ngày 01/01/2026, trường hợp Công ty (nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ) bán sản phẩm gỗ rừng trồng chỉ qua sơ chế thông thường theo quy định của pháp luật thì:
- Công ty bán sản phẩm gỗ rừng trồng chỉ qua sơ chế thông thường cho doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khác ở khâu kinh doanh thương mại thì không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật Thuế GTGT.
- Công ty bán sản phẩm gỗ rừng trồng chỉ qua sơ chế thông thường cho các đối tượng như hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh và các tổ chức, cá nhân khác thì phải tính thuế GTGT theo mức thuế suất 10% quy định tại khoản 3 Điều 9 Luật Thuế GTGT.
2. Trường hợp công ty có hoạt động trao đổi với khách hàng (là Doanh nghiệp) phần thân cây cao su đã cưa cắt để nhận lại cành, nhánh cao su, hoạt động này không phát sinh tiền chênh lệch thì thuộc đối tượng không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật Thuế GTGT.
Đề nghị Công ty căn cứ tình hình thực tế tại đơn vị, đối chiếu các văn bản quy phạm pháp luật và thực hiện theo đúng quy định.
|
CỤC THUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 9682/DON-QLDN1 |
Đồng Nai, ngày 02 tháng 6 năm 2026 |
|
Kính gửi: |
Công ty Cổ phần Gỗ MDF VRG
DONGWHA |
Thuế thành phố Đồng Nai nhận được văn bản số 02/2026/CV-VRGDW ngày 23/02/2026 của Công ty Cổ phần Gỗ MDF VRG DONGWHA (viết tắt là Công ty) về việc hướng dẫn áp dụng về thuế suất GTGT đối với nguyên vật liệu củi gỗ. Về vấn đề này, Thuế thành phố Đồng Nai có ý kiến như sau:
- Căn cứ quy định tại Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15 ngày 26/11/2024 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 149/2025/QH15 ngày 11/12/2025)
+ Tại khoản 1 Điều 5 quy định đối tượng không chịu thuế:
“1. Sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu.
Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã mua sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khác thì không phải kê khai, tinh nộp thuế giá trị gia tăng nhưng được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào."
+ Tại điểm d khoản 2 Điều 9 quy định thuế suất 5%:
"d) Sản phẩm cây trồng, rừng trồng (trừ gỗ, măng), chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường, trừ sản phẩm quy định tại khoản 1 Điều 5 của Luật này; "
+ Tại khoản 3 Điều 9 quy định thuế suất 10% :
“3. Mức thuế suất 10% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ không quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, bao gồm cả dịch vụ được các nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam cung cấp cho tổ chức, cá nhân tại Việt Nam qua kênh thương mại điện tử và các nền tảng số."
Căn cứ quy định tại Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thuế GTGT (được sửa đổi bổ sung tại Nghị định số 359/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 của Chính phủ):
+ Tại khoản 3 Điều 9 quy định thuế suất 10%:
“1. Sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu. Trong đó, các sản phẩm chỉ qua sơ chế thông thường là các sản phẩm mới được làm sạch, phơi, sấy khô, bóc vỏ, xay xát, xay vỡ mảnh, nghiền vỡ mảnh, xay bỏ vỏ, xát bỏ vỏ, tách hạt, tách cọng, cắt, xay, đánh bóng hạt, hồ hạt, chia tách ra từng phần, bỏ xương, băm, lột da, nghiền, cán mỏng, ướp muối, đóng hộp kín khí, bảo quản lạnh (ướp lạnh, đông lạnh), bảo quản bằng khí sunfuro, bảo quản theo phương thức cho hóa chất để tránh thối rữa, ngâm trong dung dịch lưu huỳnh hoặc ngâm trong dung dịch bảo quản khác và các hình thức bảo quản thông thường khác.
Trường hợp không xác định được thì Bộ Nông nghiệp và Môi trường có trách nhiệm căn cứ vào quy trình sản xuất sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt do người nộp thuế cung cấp để xác định là sản phẩm chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu theo quy định của pháp luật.
1b. Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã mua sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khác thì không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng nhưng được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.
Trong đó:
a) Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế bán sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường cho doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khác ở khâu kinh doanh thương mại thì không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng.
b) Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế bán sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường cho các đối tượng như hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh và các tổ chức, cá nhân khác thì phải tính thuế giá trị gia tăng theo mức thuế suất 5% quy định tại khoản 3 Điều 19 Nghị định này.
c) Hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và tổ chức kinh tế khác nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp tính trực tiếp khi bán sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường ở khâu kinh doanh thương mại thì tính thuế giá trị gia tăng phải nộp theo doanh thu bằng 1% (tỷ lệ %) nhân với doanh thu.”
+ Tại khoản 3 Điều 9 quy định thuế suất 5%:
“3. Sản phẩm cây trồng, rừng trồng (trừ gỗ, măng), chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường, trừ sản phẩm quy định tại khoản 1 Điều 4 của Nghị định này.”
- Căn cứ Công văn số 4582/BTC-CST ngày 13/4/2026 của Bộ Tài chính về chính sách thuế giá trị gia tăng đối với gỗ sơ chế thông thường.
Căn cứ các quy định nêu trên:
1. Tất cả các sản phẩm từ gỗ công ty nêu tại văn bản hỏi không được áp dụng mức thuế suất 5% theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 9 Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15 và tại khoản 3 Điều 9 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP. Từ ngày 01/01/2026, trường hợp Công ty (nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ) bán sản phẩm gỗ rừng trồng chỉ qua sơ chế thông thường theo quy định của pháp luật thì:
- Công ty bán sản phẩm gỗ rừng trồng chỉ qua sơ chế thông thường cho doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khác ở khâu kinh doanh thương mại thì không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật Thuế GTGT.
- Công ty bán sản phẩm gỗ rừng trồng chỉ qua sơ chế thông thường cho các đối tượng như hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh và các tổ chức, cá nhân khác thì phải tính thuế GTGT theo mức thuế suất 10% quy định tại khoản 3 Điều 9 Luật Thuế GTGT.
2. Trường hợp công ty có hoạt động trao đổi với khách hàng (là Doanh nghiệp) phần thân cây cao su đã cưa cắt để nhận lại cành, nhánh cao su, hoạt động này không phát sinh tiền chênh lệch thì thuộc đối tượng không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật Thuế GTGT.
Đề nghị Công ty căn cứ tình hình thực tế tại đơn vị, đối chiếu các văn bản quy phạm pháp luật và thực hiện theo đúng quy định.
Thuế tỉnh Đồng Nai thông báo để Công ty được biết và thực hiện đúng quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật./.
|
|
KT.TRƯỞNG THUẾ
THÀNH PHỐ |
Đăng xuất
Việc làm Hồ Chí Minh